Mở rộng cửa nhìn ra vũ trụ

Nói đến lịch sử phát triển ngôn ngữ Việt, có 2 sự kiện quan trọng liên quan đến phủ Quy Nhơn thời trung đại. 2 sự kiện cách nhau hơn 1 thế kỷ ấy thực chất cùng mở ra một vòm 'trời Văn' góp phần quyết định cho sự hình thành tiếng Việt hiện đại.

Cũng từ nhận thức ấy, với những diễn biến khoa học trong nhiều năm gần đây, một cách lãng mạn có thể hình dung - đất Võ trời Văn đang mở rộng cửa nhìn ra vũ trụ.

Ở thế kỷ XVIII, chủ trương dùng chữ Nôm của vua Quang Trung không đơn thuần là một cải cách hành chính, mà là một tuyên ngôn văn hóa - lần đầu tiên QUỐC ÂM - tôi xin nhấn mạnh - được đưa vào trung tâm quyền lực nhà nước, từ triều đình đến khoa cử và giáo dục cơ sở.

Đó là hành động giải phóng ngôn ngữ Việt khỏi thân phận phụ thuộc Hán tự, khẳng định rằng tiếng nói của dân tộc đủ năng lực gánh vác tư tưởng, luật lệ và tri thức.

 Di tích Cư sở truyền giáo Nước Mặn (thành lập tháng 7-1618 ở xã Tuy Phước Bắc) được coi là nơi phôi thai chữ Quốc ngữ. Ảnh tư liệu

Di tích Cư sở truyền giáo Nước Mặn (thành lập tháng 7-1618 ở xã Tuy Phước Bắc) được coi là nơi phôi thai chữ Quốc ngữ. Ảnh tư liệu

Trước đó hơn 100 năm, tại Cảng thị Nước Mặn (1618-1621), quá trình La tinh hóa chữ Việt khởi sự trong một hoàn cảnh rất khác: Không phải từ quyền lực lãnh chúa, mà từ tầm nhìn con người bản địa, nhu cầu giao tiếp, truyền giáo và đối thoại văn hóa.

Chính sự cởi mở của đất Quy Nhơn đã cho phép tiếng Việt lần đầu tiên được “nghe - ghi - thử nghiệm” bằng mẫu tự La tinh, với giọng địa phương cụ thể, sống động, thường nhật của đời sống.

Nếu chữ Nôm của Quang Trung là ý thức tự tôn từ bên trong, thì chữ Quốc ngữ sơ khai ở Nước Mặn là cơ hội kỹ thuật từ bên ngoài; một bên trao cho tiếng Việt địa vị chính danh, bên kia lại như một kiểu “quốc tế hóa” trao cho nó công cụ linh hoạt để lan tỏa.

Hai dòng chảy ấy gặp nhau trong trời Văn Bình Định - nơi chữ Việt vừa được khẳng định là Quốc ngữ, vừa được mở đường để trở thành ngôn ngữ hiện đại - giản dị, chính xác, phổ cập - mang theo tinh thần tự chủ văn hóa và sẵn sàng hội nhập với thế giới.

 Tiểu chủng viện Làng Sông được coi là một trong những nơi lưu dấu hành trình đầu tiên của chữ Quốc ngữ; cũng là 1 trong 3 cơ sở in chữ Quốc ngữ đầu tiên tại Việt Nam. Ảnh: Nguyễn Dũng

Tiểu chủng viện Làng Sông được coi là một trong những nơi lưu dấu hành trình đầu tiên của chữ Quốc ngữ; cũng là 1 trong 3 cơ sở in chữ Quốc ngữ đầu tiên tại Việt Nam. Ảnh: Nguyễn Dũng

Chúng ta đều biết, ngôn ngữ là hồn cốt, biểu tượng văn hóa và cội nguồn sức mạnh dân tộc và chữ Nôm là một minh chứng hùng hồn của nền văn hóa độc lập tự chủ mà bao thế hệ tiền nhân của dân tộc Việt đã sáng tạo và phát triển nên.

Riêng về chữ Nôm, đã khởi đầu từ thế kỷ IX - X, nhưng việc quốc gia hóa nó như thời Tây Sơn, không thể không tác động tích cực đến sự bùng nổ của văn thơ hay các kịch bản tuồng Nôm thế kỷ XVIII - XIX mà ngày nay, chúng ta tự hào với di sản tiếng Việt, văn Việt, người Việt.

Và bên cạnh đó, công cuộc xây dựng chữ Quốc ngữ là cơ duyên văn hóa mà không phải nước nào ở phương Đông có văn cảnh tương tự như ta cũng hiện thực hóa được.

Đón Xuân 2026, miền đất Võ trời Văn có những con số biết nói. Năm nay là chẵn 725 năm Thượng hoàng Trần Nhân Tông vân du Chiêm Thành (1301), dẫn đến việc 5 năm sau đó - năm 1306 - Huyền Trân công chúa vu quy Đồ Bàn, đến nay là 720 năm một sự kiện đầy ân nghĩa của hai vương quốc, mở lối cho Đại Việt tiến dần về phương Nam.

Năm nay cũng là dịp kỷ niệm 555 năm ngày đất này xuất hiện trong cơ cấu nhà nước Đại Việt với tên gọi phủ Hoài Nhân (1471), thời Lê Thánh Tông. 300 năm sau đó, năm 1771, ngày Tây Sơn khởi nghĩa.

Và từ đó đến nay chẵn 255 năm. Nhắc lại dăm ba con số, để ngẫm nghĩ thêm về một xứ sở mà tiền nhân đã dày công vun đắp, hầu như năm nào cũng là năm chẵn cho ít nhất một vài sự kiện lịch sử văn hóa tiêu biểu.

Một ngẫu nhiên thú vị, những vị vua liên quan đến các sự kiện ấy, ngay từ thời Hán Nho thống trị văn đàn, họ lại là những người yêu văn Nôm, góp những bước hoằng dương Tiếng Việt như vua Trần Nhân Tông có Cư trần lạc đạo phú Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca, vua Lê Thánh Tông có Hồng Đức quốc âm thi tập…

***

Vừa qua, nhân hội nghị 100 năm Vật lý lượng tử nhằm hưởng ứng sáng kiến “Năm Quốc tế về Khoa học và Công nghệ Lượng tử (IYQ)” do Liên Hợp Quốc công bố, tôi được gặp gỡ một yếu nhân ở đây, đặc biệt là dịp tôn vinh GS. Serge Haroche (Nobel Vật lý 2012) là người đoạt giải Nobel thứ 19 đến với đất Võ trời Văn.

Việc nhiều nhà khoa học đoạt giải Nobel từ các lĩnh vực vật lý, hóa học, kinh tế và hòa bình đến Trung tâm Quốc tế Khoa học và Giáo dục liên ngành tại Quy Nhơn - hay như tôi thường nói vui, nơi hoàng cung vật lý ICISE trong hơn một thập kỷ qua có ý nghĩa nâng tầm trao đổi học thuật quốc tế tại Việt Nam, đặc biệt trong các lĩnh vực khoa học cơ bản và ứng dụng.

Những sự kiện đó gia tăng cơ hội kết nối tri thức cho thế hệ trẻ Việt Nam, từ sinh viên đến nghiên cứu sinh, thông qua các hội nghị, trường học quốc tế, tăng cường vị thế khoa học quốc tế cho Quy Nhơn và tỉnh nhà, biến một vùng đất có truyền thống văn hóa - lịch sử thành “điểm đến khoa học” của khu vực và cả nước.

 Trung tâm Quốc tế Khoa học và Giáo dục liên ngành - ICISE. Ảnh tư liệu

Trung tâm Quốc tế Khoa học và Giáo dục liên ngành - ICISE. Ảnh tư liệu

Trong bối cảnh đặc thù của không gian văn hóa “đất Võ trời Văn”, những sự kiện khoa học tại ICISE, dường như gợi mở cho người bản địa một câu hỏi rộng hơn, thuộc phạm trù triết học khoa học: Liệu khoa học hiện đại, đặc biệt là vật lý lượng tử, có thể được hiểu như một hình thức thi ca của nhận thức vũ trụ hay không?

Serge Haroche được biết đến với một lĩnh vực mới gọi là CQED (cavity quantum electrodynamics - điện động lực học khoang), đặc biệt là khả năng quan sát và điều khiển trạng thái lượng tử của photon mà không làm sụp đổ chúng.

Điều đáng chú ý là phong cách khoa học của Haroche là một khoa học của sự lắng nghe, của những thao tác tinh vi ở ngưỡng giới hạn giữa cái có thể đo và cái gần như không thể nắm bắt, ông đã làm thay đổi cách chúng ta hiểu ánh sáng, nguyên tử và bản chất lượng tử của vũ trụ, truyền cảm hứng cho thế hệ các nhà vật lý mới.

Sự hiện diện của các nhà khoa học tại Quy Nhơn, thông qua mối giao tình lâu dài và vô tư với vợ chồng GS. Trần Thanh Vân - Kim Ngọc là biểu trưng cho việc gieo mầm một nền văn hóa khoa học, nơi tri thức hài hòa với thiên nhiên và cảm thức văn hóa bản địa.

Trong không gian của xứ sở Quang Trung - Nguyễn Huệ và những thi sĩ “đo từ ngọn cỏ tới cung trăng”, vật lý lượng tử không xuất hiện như một tri thức xa vời, mà như một tiếp nối hiện đại của khát vọng hiểu vũ trụ đã tồn tại từ lâu trong văn hóa Việt Nam.

***

Có thể xem ICISE như một điểm hội tụ hiện đại, nơi các trục chiều sâu của đất Võ trời Văn gặp nhau trong cùng một không gian tư duy. Trong mạch nối ấy, ICISE không chỉ là một trung tâm khoa học, mà là một không gian trung gian giao hòa giữa sông núi biển trời, lịch sử và thực tại. Ở đó, tinh thần Quang Trung như kết nối một lượng thông tin của hào khí, của nhập cuộc và khai mở.

Vì thế, khi khoa học thế giới hiện diện tại ICISE, nó không rơi xuống một vùng đất trống, mà đi vào một địa tầng văn hóa đã sẵn khả năng đối thoại, học hỏi và bước ra những chân trời xa rộng.

Trong sự giao thoa ấy, đất Võ trời Văn không chỉ là nơi “đón” khoa học, mà là nơi khoa học được đặt trong mối quan hệ với con người, với lịch sử, và với chiều sâu tinh thần của chính nó.

NGUYỄN THANH MỪNG

Nguồn Gia Lai: https://baogialai.com.vn/mo-rong-cua-nhin-ra-vu-tru-post580041.html