Mốc son lịch sử của Cách mạng Việt Nam
Mùa Xuân năm 1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh sau 30 năm bôn ba năm châu, bốn biển đã tìm ra con đường cách mạng vô sản, con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam. Người quyết định về nước, lãnh đạo Nhân dân làm cách mạng tháng Tám, giải phóng dân tộc, mở ra kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập, tự do cho đất nước ta.

Bác Hồ về thăm bà con Pác Bó (Cao Bằng) tháng 2/1961 (Ảnh tư liệu)
Nước mất, nhà tan, cả dân tộc bị dìm trong máu lửa, tình hình đen tối như không có đường ra, với ý chí, hoài bão lớn lao và tư duy mới, ngày 5/6/1911, thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã rời Tổ quốc, tìm con đường cứu nước. Sau khi đi qua nhiều nước, nhiều châu lục, làm nhiều nghề để kiếm sống, đầu năm 1919, Nguyễn Tất Thành gia nhập Đảng Xã hội Pháp. Ngày 18/6/1919, thay mặt những người yêu nước Việt Nam, với tên gọi mới Nguyễn Ái Quốc gửi "Bản yêu sách 8 điểm" tới Hội nghị Verssailles đòi những quyền dân tộc tự quyết. Sự kiện đó tạo ra tiếng vang lớn cho Việt Nam và Đông Dương, thức tỉnh cả dân tộc về quyền sống của mình.
Sự kiện mang tính bước ngoặt to lớn khi tháng 7/1920, Nguyễn Ái Quốc tiếp cận tác phẩm "Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa" của V.I.Lênin và nhận thấy tác phẩm “là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”. Điều này đã làm chuyển biến tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc, từ chủ nghĩa yêu nước đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và tìm thấy ở đó lý luận cách mạng, con đường cứu nước đúng đắn, gắn liền sự nghiệp giải phóng dân tộc với sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng con người của chủ nghĩa cộng sản. Cuối tháng 12/1920, tại Đại hội XVIII của Đảng Xã hội Pháp (thành phố Tours), Nguyễn Ái Quốc đã bỏ phiếu tán thành quan điểm của V.I.Lênin, đường lối của Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III) và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp, trở thành người cộng sản đầu tiên của Việt Nam. Trả lời câu hỏi của một đồng chí người Pháp, Nguyễn Ái Quốc nêu rõ: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những gì tôi muốn, đấy là tất cả những gì tôi hiểu”.
Tháng 6/1923, Nguyễn Ái Quốc rời nước Pháp sang Liên Xô tiếp tục sự nghiệp đấu tranh cách mạng theo con đường của chủ nghĩa Mác - Lênin và Quốc tế Cộng sản; nêu rõ quyết tâm, ý chí và phương pháp đấu tranh để giải phóng dân tộc mình khỏi ách cai trị thực dân: “Đối với tôi, câu trả lời đã rõ ràng: trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập”.
Từ một thanh niên yêu nước, Nguyễn Ái Quốc trở thành người cộng sản kiên trung, từ người đấu tranh cho độc lập tự do của dân tộc trở thành chiến sĩ quốc tế tiêu biểu. Ở Nguyễn Ái Quốc là sự hòa quyện, thống nhất giữa lập trường giai cấp với lập trường dân tộc, giữa chủ nghĩa dân tộc chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng.
Mùa Xuân năm 1930, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, thông qua Cương lĩnh chính trị đầu tiên. Cương lĩnh ngắn gọn, rõ ràng và thể hiện rõ tinh thần độc lập, tự chủ, phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn Việt Nam, được Nguyễn Ái Quốc và Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định đấu tranh giải phóng dân tộc, chống chủ nghĩa đế quốc thực dân và chế độ phong kiến đã suy tàn, để cho nước Nam được hoàn toàn độc lập.
Trong quá trình hoạt động ở nước ngoài, Người không ngừng xúc tiến việc tìm đường trở về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Đầu năm 1940, tình hình thế giới có nhiều biến chuyển mau chóng. Sự kiện Chính phủ Pháp đầu hàng phát xít Đức (tháng 6/1940) theo Người nhận định: “là thời cơ thuận lợi cho cách mạng Việt Nam. Ta phải tìm mọi cách về nước để tranh thủ nắm thời cơ. Chậm trễ lúc này là có tội với cách mạng”. Nhưng việc lựa chọn địa điểm, tức chỗ “đứng chân” trong nước là đặc biệt quan trọng, nó có ý nghĩa quyết định toàn bộ sự phát triển về sau của cách mạng Việt Nam.
Chọn Cao Bằng là nơi trở về
Ý tưởng về chọn chỗ đứng chân, để xây dựng căn cứ địa cách mạng đã xuất hiện khá sớm trong lý luận cách mạng của Nguyễn Ái Quốc. Ngay từ năm 1928, Người đã chỉ rõ vệc tuyên truyền cách mạng cần phải được tiến hành trong nông dân ở mọi nơi, nhưng sức mạnh chủ yếu của Đảng phải được dồn cho một tỉnh hoặc một vài tỉnh đặc biệt… Với ý tưởng và lập luận đó, Người đã vận dụng vào thực tiễn để lựa chọn chỗ đứng chân, xây dựng căn cứ và mở rộng căn cứ địa cách mạng của cả nước. Lúc đầu từ Trung Quốc, Người có ý định về nước “theo hướng Côn Minh - Lào Cai. Người đã phái Bùi Đức Minh, Hoàng Văn Lộc về Hà Khẩu để điều tra và nắm tình hình trong nước và đặt cơ sở liên lạc”. Qua tìm hiểu thấy Nhân dân giác ngộ chưa cao, phong trào phát triển chưa mạnh, cơ sở đảng chưa vững chắc, cầu Hồ Kiều nối liền biên giới Việt Nam - Trung Quốc đã bị đánh sập ngày 10/9/1940. Vì vậy, dự định về nước theo hướng Lào Cai không thể thực hiện được. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc “tin cho Bùi Đức Minh, Hoàng Văn Lộc trở lại Côn Minh tìm hướng mới. Và hướng mới đó là Cao Bằng” để về nước hoạt động và xây dựng căn cứ địa.

Lán Khuổi Nặm - nơi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (từ ngày 10 - 19/5/1941) (Theo Báo Cao Bằng)
Việc lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chọn Cao Bằng để về nước hoạt động và xây dựng căn cứ địa không phải sự lựa chọn tình cờ, ngẫu nhiên, mà là một sự tính toán kỹ lưỡng. Với tầm nhìn chiến lược của một vị lãnh tụ thiên tài, Người đã phát hiện Cao Bằng là nơi hội tụ đủ cả “Thiên thời, địa lợi, nhân hòa” để xây dựng căn cứ địa cách mạng của cả nước. Trước hết Cao Bằng là tỉnh miền núi, vừa có đường bộ, đường thủy sang Trung Quốc nên thuận lợi cho giao thông liên lạc; còn có các tuyến đường bộ đi xuống Lạng Sơn, Thái Nguyên… địa thế hiểm trở, là địa bàn thực dân Pháp khó kiểm soát. Từ Cao Bằng, khi lực lượng cách mạng phát triển, cơ sở Việt Minh mở rộng có thể nhanh chóng “Đông tiến” xuống Lạng Sơn, “Nam tiến” xuống Thái Nguyên và “Tây tiến” sang Hà Giang, Tuyên Quang… đến các tỉnh vùng trung du, đồng bằng Bắc Bộ. Về mặt địa thế, địa hình, kinh tế, quân sự, Cao Bằng có đủ điều kiện trở thành một trong những bàn đạp chiến lược đầu tiên của thời kỳ khởi nghĩa vũ trang giải phóng dân tộc.
Song, yếu tố quan trọng góp phần đi đến quyết định lựa chọn Cao Bằng để lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước là “Cao Bằng có phong trào tốt từ trước”, là nơi sinh sống của hàng chục vạn đồng bào các dân tộc Tày, Nùng, Dao, Mông, Kinh, Lô Lô, Hoa…các dân tộc luôn đoàn kết gắn bó với nhau trong công cuộc dựng nước và giữ nước. Từ ngày có Đảng, đồng bào các dân tộc Cao Bằng luôn một lòng theo Đảng, không ngừng đấu tranh chống thực dân, phong kiến; tiêu biểu là Hoàng Đình Giong - Người cộng sản kiên trung, người học trò xuất sắc của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.
Tháng 10/1940, khi chính thức quyết định chọn Cao Bằng để xây dựng căn cứ địa cách mạng đầu tiên, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã nhận định: “Căn cứ địa Cao Bằng sẽ mở ra triển vọng lớn cho cách mạng nước ta. Cao Bằng có phong trào tốt từ trước, lại kề sát biên giới, lấy đó làm cơ sở liên lạc quốc tế rất thuận lợi. Nhưng từ Cao Bằng còn phải phát triển về Thái Nguyên và thông xuống nữa mới có thể tiếp xúc với toàn quốc được. Có nối phong trào được với Thái Nguyên thì khi phát động đấu tranh vũ trang, lúc thuận lợi có thể công, lúc khó khăn có thể thủ”. Tầm nhìn của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trong việc chọn Cao Bằng là một địa bàn có ý nghĩa chiến lược lớn, thấy được mối quan hệ biện chứng giữa một địa phương với toàn quốc, giữa phong trào cách mạng một vùng với phong trào cách mạng cả nước, nhận thức, đoán định được hiện tại và triển vọng tương lai. Trong thời gian chuẩn bị về nước, Người đã tổ chức một lớp huấn luyện chính trị cho 40 thanh niên Việt Nam yêu nước tại Nặm Quang, Ngàm Tảy (Trung Quốc), trong đó chủ yếu là người Cao Bằng, làm hạt nhân cho việc xây dựng phong trào cách mạng ở địa phương sau này.
Với nhận định đánh giá và sự lựa chọn đúng đắn đó, ngày 28/1/1941 (tức ngày mùng Hai tết Tân Tỵ), lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc vượt qua mốc 108 biên giới Việt Nam - Trung Quốc về đến Pác Bó, xã Trường Hà, Hà Quảng, Cao Bằng. Đồng bào Pác Bó - Nhân dân các dân tộc Cao Bằng vinh dự, tự hào thay mặt Nhân dân cả nước đón người con ưu tú nhất của dân tộc Việt Nam - lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, sau 30 năm bôn ba hoạt động ở nước ngoài, tìm đường cứu nước, cứu dân đã trở về Tổ quốc, trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam.
Sự kiện ngày 28/1/1941, sau 30 năm hoạt động ở nước ngoài, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về Tổ quốc trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam là một sự kiện chính trị quan trọng, là mốc son đánh dấu bước ngoặt phát triển của cách mạng Việt Nam. Từ đây, Pác Bó - Hà Quảng - Cao Bằng trở thành đại bản doanh của căn cứ Việt Bắc, trở thành chiếc nôi của cách mạng Việt Nam. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về hoạt động và gắn bó với Cao Bằng là sự nối tiếp dòng chảy của thời gian 30 năm Người bôn ba tìm đường cứu nước, kết thúc chặng đường dài hoạt động sôi nổi, đầy khó khăn, hiểm nguy của Người ở nước ngoài, mở ra thời kỳ phát triển mới của cách mạng Việt Nam, thời kỳ chuẩn bị về mọi mặt, tiến tới phát động cao trào Tổng khởi nghĩa giành thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, đưa dân tộc Việt Nam bước sang kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Mùa Xuân năm 2026, kỷ niệm sự kiện lịch sử 85 năm Bác Hồ trở về nước, cũng là thời khắc Đảng ta tiến hành thành công Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, với phương châm “Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Đột phá - Phát triển”. Đại hội xác định tư duy, tầm nhìn, những quyết sách chiến lược để đất nước vững bước tiến mạnh trong kỷ nguyên phát triển mới, thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đến năm 2030 khi Đảng tròn 100 năm thành lập. Thành công của đại hội tạo ra khí thế mới, sức mạnh mới, để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vững bước tiến vào kỷ nguyên mới, đồng thời là dịp để chúng ta tiếp tục tôn vinh cuộc đời, sự nghiệp, những cống hiến vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh và vận dụng, phát triển sáng tạo tư tưởng của Người vào công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay.












