Mới: Nghiêm cấm tự ý ghi âm, ghi hình trong quá trình hoà giải tại cơ sở
Luật Hoà giải ở cơ sở (sửa đổi) bổ sung quy định về bảo mật thông tin trong hòa giải ở cơ sở nhằm bảo đảm quyền, lợi ích của các bên và tạo nền tảng tin cậy trong quá trình hòa giải.
Sáng nay, 24/8, với 471/472 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành, Quốc hội đã thông qua Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi).
Trình bày báo cáo tiếp thu, giải trình và chỉnh lý Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi), Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng cho biết, trên cơ sở ý kiến của các đại biểu Quốc hội, Chính phủ đã chỉ đạo chỉnh lý toàn diện dự thảo Luật, bảo đảm yêu cầu về tính hợp hiến, thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật; đồng thời thể chế hóa chủ trương phát triển các thiết chế giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cải cách thủ tục hành chính và chuyển đổi số.

Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng trình bày báo cáo tiếp thu, giải trình
Một trong những nội dung mới đáng chú ý là việc bổ sung Điều 5 quy định về bảo mật thông tin trong hòa giải ở cơ sở. Theo đó, Luật nghiêm cấm trong quá trình hòa giải, không được tự ý ghi âm, ghi hình; việc ghi chép chỉ phục vụ hòa giải và phải bảo mật nội dung, trừ khi các bên có thỏa thuận khác. Quy định này nhằm bảo đảm quyền, lợi ích của các bên và tạo nền tảng tin cậy trong quá trình hòa giải.
Về tiêu chuẩn hòa giải viên, Luật lược bỏ từ “thường xuyên” trong cụm từ “cư trú thường xuyên tại cơ sở”, qua đó mở rộng phạm vi người có thể được lựa chọn vào danh sách bầu hòa giải viên, đồng thời bảo đảm thống nhất với Luật Cư trú.
Luật cũng bổ sung tiêu chuẩn hòa giải viên phải “có năng lực hành vi dân sự đầy đủ” và quy định chặt chẽ các trường hợp không đủ tiêu chuẩn làm hòa giải viên. Trong đó có người đang trong thời hạn thi hành quyết định xử lý kỷ luật, đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, đang chấp hành án hình sự hoặc chưa được xóa án tích.

Kết quả biểu quyết
Đối với việc bầu hòa giải viên, Luật kế thừa những quy định còn phù hợp của Luật năm 2013, đồng thời bổ sung cơ chế xử lý trường hợp số người đủ điều kiện được công nhận làm hòa giải viên nhiều hơn số lượng cần kiện toàn. Việc bầu hòa giải viên có thể kết hợp nhiều hình thức nhằm bảo đảm tốt hơn tính dân chủ, công khai, minh bạch và phù hợp với thực tiễn.
Ngoài ra, Luật bổ sung nghĩa vụ của hòa giải viên trong việc phối hợp thực hiện các biện pháp phòng ngừa khi nhận thấy mâu thuẫn, tranh chấp có thể dẫn đến hành vi bạo lực, ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng của các bên hoặc những người khác tham gia hòa giải.
Hòa giải viên cũng có trách nhiệm đề xuất Ủy ban nhân dân cấp xã hỗ trợ bố trí người phiên dịch theo đề nghị của các bên. Tổ trưởng tổ hòa giải thực hiện thủ tục đề nghị thanh toán thù lao theo vụ, việc hòa giải cho người được mời trực tiếp tham gia hòa giải. Luật đồng thời bổ sung trường hợp một người thôi làm Tổ trưởng tổ hòa giải nhưng vẫn tiếp tục làm hòa giải viên, bảo đảm phù hợp với thực tế.
Về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hòa giải, Luật quy định, các bên có quyền lựa chọn, đề xuất hoặc đề nghị thay đổi người phiên dịch; có nghĩa vụ cung cấp thông tin, tài liệu liên quan. Việc đồng ý với nội dung văn bản về kết quả hòa giải được thể hiện thông qua ký tên, điểm chỉ hoặc xác nhận vào văn bản.
Về quản lý nhà nước, Luật không quy định quá cụ thể từng nội dung mà giao Chính phủ quy định chi tiết, bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với tổ chức bộ máy và yêu cầu phân công, phân cấp trong từng giai đoạn.
