Một bức ảnh thời chiến khu Việt Bắc – Cả một miền ký ức văn chương

Những tên tuổi trong ảnh đã được ghi nhận bằng các giải thưởng cao quý. Nam Cao, Nguyễn Huy Tưởng, Chế Lan Viên, Nguyễn Đình Thi, Nguyên Hồng, Tô Hoài, Học Phi là những tác giả được tặng hoặc truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh. Kim Lân và Nguyễn Xuân Sanh được tặng Giải thưởng Nhà nước năm 2001. Hoàng Trung Thông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2022, sau Giải thưởng Nhà nước năm 2001. Đằng sau mỗi sự ghi nhận là một đời lao động nghệ thuật và những tác phẩm đã vượt qua thử thách của thời gian.

Hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày Toàn quốc kháng chiến (19/12/1946 – 19/12/2026), nhìn lại một bức ảnh chụp giữa chiến khu Việt Bắc, ta gặp những gương mặt mà tên tuổi của họ đã trở thành thân thuộc với nhiều thế hệ người Việt. Họ đứng, ngồi bên nhau trong trang phục giản dị, giữa cây rừng, mang theo tài năng và những lựa chọn của đời mình. Từ khoảnh khắc ấy, một câu hỏi trở về: hôm nay, chúng ta nhớ những người đã góp phần làm nên diện mạo văn học Việt Nam như thế nào?

Hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày Toàn quốc kháng chiến (19/12/1946 – 19/12/2026), nhìn lại một bức ảnh chụp giữa chiến khu Việt Bắc, ta gặp những gương mặt mà tên tuổi của họ đã trở thành thân thuộc với nhiều thế hệ người Việt. Họ đứng, ngồi bên nhau trong trang phục giản dị, giữa cây rừng, mang theo tài năng và những lựa chọn của đời mình. Từ khoảnh khắc ấy, một câu hỏi trở về: hôm nay, chúng ta nhớ những người đã góp phần làm nên diện mạo văn học Việt Nam như thế nào?

1. Những tên tuổi lớn trong một khoảnh khắc bình dị

Thoạt nhìn, đây chỉ là một bức ảnh tập thể giữa thiên nhiên. Không phông màn trang trọng, không lễ phục, không những hàng ghế được xếp ngay ngắn. Người đứng, người ngồi, người hơi nghiêng về phía bạn; những bàn tay đặt lên vai nhau, những gương mặt nhìn về ống kính với vẻ gần gũi. Nhưng đọc các tên được chú thích, người xem bỗng nhận ra mình đang đứng trước một phần lịch sử văn học Việt Nam.

Học Phi, Nguyễn Xuân Sanh, Chế Lan Viên, Nguyễn Huy Tưởng, Tô Hoài, Hoàng Trung Thông; phía trước là Nguyễn Đình Thi, Kim Lân, Nguyên Hồng, Nam Cao. Mười gương mặt trong phần ảnh đang được lưu truyền, mười con đường sáng tạo, mỗi người một giọng điệu, một miền quê, một thế giới nghệ thuật.

Theo tư liệu ảnh được báo Thể thao và Văn hóa công bố, bức ảnh do nhà nhiếp ảnh Trần Văn Lưu chụp các văn nghệ sĩ dự Hội nghị Chấp hành mở rộng Hội Văn nghệ Việt Nam tại Việt Bắc tháng 3/1951. Bản đầy đủ còn có họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung ở ngoài cùng bên trái, phần không xuất hiện trong bản ảnh này. Nhắc lại xuất xứ ấy cũng là một cách tri ân người đã giữ cho hậu thế khoảnh khắc quý giá.

Tháng 3/1951, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp vẫn đang tiếp diễn. Những người trong ảnh đã có người nổi tiếng từ trước Cách mạng Tháng Tám, có người đang khẳng định tài năng giữa đời sống kháng chiến. Nhiều tác phẩm mà hôm nay chúng ta xem là kinh điển còn nằm ở phía trước cuộc đời họ.

Bởi thế, nhìn bức ảnh bằng ký ức hôm nay, ta dễ quên rằng lúc ấy họ cũng đang sống giữa những điều chưa biết: cuộc chiến sẽ còn kéo dài bao lâu, ngày trở về sẽ đến khi nào, trang viết đang ấp ủ liệu có thành hình? Danh tiếng về sau không thể làm mất đi sự thật giản dị ấy.

Trong ảnh, Nguyễn Đình Thi và Hoàng Trung Thông còn rất trẻ. Tô Hoài, Kim Lân, Chế Lan Viên, Nguyễn Xuân Sanh cũng mới bước qua tuổi ba mươi. Những gương mặt mà bao thế hệ học trò quen gọi bằng hai tiếng “nhà văn”, “nhà thơ” từng có một thời thanh xuân như thế: áo quần mộc mạc, gần gũi với đời sống chiến khu, đứng sát bên nhau giữa cây rừng.

Đặc biệt, ánh nhìn của Nam Cao khiến người xem hôm nay khó tránh khỏi bùi ngùi. Chỉ ít tháng sau khoảnh khắc này, ông hy sinh khi đi công tác trong vùng địch hậu, vào tháng 11/1951. Người viết “Chí Phèo”, “Lão Hạc”, “Sống mòn”, “Đôi mắt”… đã dừng cuộc đời mình giữa lúc sức sáng tạo còn đầy hứa hẹn.

Những người có mặt hôm ấy không thể biết bức ảnh của mình sẽ được hậu thế nhìn lại với bao thương nhớ. Họ chỉ đang có một cuộc gặp gỡ giữa kháng chiến. Chính vẻ bình dị ấy làm nên sức lay động lâu bền của tấm hình.

2. Từ gương mặt trong ảnh đến những trang sách nằm lòng

Có người xem ảnh rồi nhận ra ngay Nam Cao. Có người tìm Kim Lân, nhớ ông Hai trong truyện “Làng”. Có người nhìn Nguyên Hồng và nhớ bé Hồng trong “Những ngày thơ ấu”. Một bức ảnh nhỏ có thể mở ra cả những năm tháng học trò: lớp học, bàn gỗ, trang vở, giọng thầy cô và một câu văn từng khiến mình lặng đi.

Nam Cao sống trong ký ức bạn đọc qua những phận người bị cái nghèo và sự bất công dồn ép. Lão Hạc, Chí Phèo, Thị Nở, người trí thức trong Đời thừa, Sống mòn vẫn khiến chúng ta day dứt về phẩm giá, tình thương và quyền được sống một đời có ý nghĩa. Đọc lại Nam Cao khi đã trưởng thành, nhiều người có thể nhận ra những nỗi đau mà thời đi học mình chưa hiểu hết. Sau một số phận tưởng đã quen là bao câu hỏi vẫn còn chạm đến đời sống hôm nay.

Kim Lân lại đưa người đọc về với làng quê, với những con người ít lời mà sâu nặng. Trong “Làng”, tình yêu nơi chôn nhau cắt rốn được đặt trước một thử thách lớn của thời cuộc. Trong “Vợ nhặt”, giữa cái đói và cái chết, con người vẫn muốn có một mái nhà, một người thân, một ngày mai. Văn ông khiến ta tin rằng tình thương có thể được gìn giữ ngay trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất. Hai truyện ngắn ấy đã tạo nên dấu ấn đặc biệt của Kim Lân trong văn học và trong ký ức nhiều thế hệ học sinh.

Nhìn Nguyên Hồng, người đọc nhớ một ngòi bút tha thiết với những người cùng khổ. “Bỉ vỏ”, “Những ngày thơ ấu” mở ra những cuộc đời nhiều tổn thương, những thân phận phải vật lộn để sống và để được yêu thương. Riêng đoạn trích “Trong lòng mẹ” đã khiến tình mẫu tử trở thành một niềm xúc động khó phai trong ký ức học đường. Ở văn Nguyên Hồng, người đọc có thể cảm thấy nhà văn đang đau cùng nhân vật, đang cố giữ lấy phần người dễ bị cuộc đời làm tổn thương.

Tô Hoài đến với nhiều bạn đọc từ tuổi nhỏ bằng “Dế Mèn phiêu lưu ký”. Một thế giới cỏ cây và côn trùng bỗng trở nên sinh động, có tính cách, có lỗi lầm, có tình bạn và hành trình trưởng thành. Rồi đến “Vợ chồng A Phủ”, người đọc gặp những kiếp người bị áp bức và sức sống âm thầm tìm đường thoát khỏi bóng tối. Từ đồng quê đến miền núi, từ câu chuyện cho thiếu nhi đến trang viết về người lớn, Tô Hoài giúp chúng ta nhìn thấy sự phong phú của đời sống Việt Nam.

Nguyễn Huy Tưởng gợi nhớ “Vũ Như Tô”, “Bắc Sơn”, “Sống mãi với Thủ đô”, “Lá cờ thêu sáu chữ vàng”. Ở ông, lịch sử có gương mặt và số phận con người. Đặc biệt, với những bạn đọc từng say mê câu chuyện Trần Quốc Toản, lòng yêu nước đã đến bằng cảm xúc của một thiếu niên muốn góp sức trước vận mệnh đất nước. Những trang sách ấy cho lịch sử một sức gần gũi mà các mốc năm tháng khó tự mình đem lại.

Nguyễn Đình Thi được nhớ đến qua thơ, văn xuôi, kịch và cả âm nhạc. “Đất nước”, “Xung kích”, “Vỡ bờ”, “Người Hà Nội”… đưa người đọc, người nghe qua nhiều cung bậc của một thời dân tộc đứng lên. Tài năng ở nhiều lĩnh vực giúp ông để lại những dấu ấn rộng và sâu trong đời sống văn học nghệ thuật.

Chế Lan Viên đem đến chiều sâu suy tưởng. Từ “Điêu tàn” đến “Ánh sáng và phù sa”, từ “Tiếng hát con tàu” đến “Con cò”, thơ ông mở ra những cách nhìn sắc sảo về con người, quê hương và hành trình sáng tạo. Người đọc có thể nhớ ông qua một bài thơ từng học; cũng có thể tìm lại ông khi muốn suy ngẫm về sự gắn bó giữa cá nhân và cuộc đời rộng lớn.

Hoàng Trung Thông gợi nhớ “Bài ca vỡ đất”, “Bao giờ trở lại”, “Những cánh buồm”: sức lao động, tình quân dân và khát vọng đi xa của con người. Nguyễn Xuân Sanh, bên cạnh những tìm tòi nghệ thuật và công việc dịch thơ, còn hiện diện dịu dàng trong ký ức nhiều thế hệ qua “Nhớ dừa”, “Cô giáo lớp em”. Những bài thơ ấy từng được đưa vào sách giáo khoa trong nhiều năm.

Với Học Phi, những bạn đọc trẻ có thể cần thêm một lời giới thiệu để nhận ra đóng góp của ông trong văn học và sân khấu cách mạng. Việc một tên tuổi ít được nhắc hơn trong lớp học hôm nay càng cho thấy sự cần thiết của những cuộc trở về với tư liệu. Một nền văn học được gây dựng bằng nhiều công việc: sáng tác, tổ chức, dìu dắt, dịch thuật, đưa tác phẩm tới công chúng. Có những đóng góp chỉ hiện rõ khi chúng ta chịu khó tìm đọc thêm.

3. Tri ân bằng sự tiếp nối của bạn đọc

Tên tuổi văn nghệ sĩ cũng hiện diện trong không gian sống của cộng đồng. Ở Hà Nội, phố Nguyễn Đình Thi ven Hồ Tây được gắn biển năm 2015. Tại quê hương Chế Lan Viên ở Quảng Trị, nhà lưu niệm được khánh thành nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh ông, vào năm 2020. Một tên phố, một nơi lưu niệm có thể trở thành điểm bắt đầu để người hôm nay tìm hiểu người đi trước.

Nhưng sự tiếp nối sâu bền nhất vẫn diễn ra khi mọi người mở sách. Bạn đọc hôm nay nhớ đến họ theo nhiều cách. Có người vẫn thuộc một đoạn thơ từ thời học trò. Có người nhận ra tên nhà văn trên đường mình đi hằng ngày. Có người biết tác phẩm qua phim ảnh, sân khấu, sách nói. Cũng có người chỉ đến khi gặp bức ảnh này mới ghép được gương mặt tác giả với trang văn từng khiến mình xúc động.

Mỗi cách nhớ đều có giá trị. Và mỗi cách nhớ đều có thể dẫn tới một cuộc đọc sâu hơn. Đọc lại “Lão Hạc” sau những năm tháng chăm sóc cha mẹ già, ta có thể hiểu thêm nỗi cô độc và lòng tự trọng của một con người. Đọc lại “Vợ nhặt” sau khi đã biết lo toan cho một gia đình, ta có thể cảm nhận rõ hơn ý nghĩa của một bữa cơm, một lời chấp nhận, một niềm hy vọng. Đọc lại “Trong lòng mẹ”, có người sẽ nghĩ đến chính mẹ mình, đến những điều chưa kịp nói. Tác phẩm lớn có khả năng lớn lên cùng trải nghiệm của bạn đọc.

Hướng tới 80 năm Ngày Toàn quốc kháng chiến, bức ảnh Việt Bắc còn gợi một suy ngẫm về sức mạnh tinh thần của dân tộc. Giữa chiến tranh, những con người ấy vẫn viết, vẫn nghĩ về nghệ thuật, vẫn tìm cách nói cho sâu hơn về nhân dân và đất nước. Trang sách giữ lại những điều mà bản tường thuật một trận đánh chưa thể kể hết: nỗi nhớ, sự mất mát, tình thương, phẩm giá, niềm tin và những chuyển động âm thầm trong lòng người.

Bởi vậy, việc bảo quản ảnh, xác định đúng chú thích, ghi tên người chụp, gìn giữ bản thảo, thư từ và kỷ vật đều rất đáng trân trọng. Những giờ đọc sách, những cuộc trò chuyện ở thư viện, những lần đưa tác phẩm trở lại sân khấu hay giới thiệu một cuốn sách cho người trẻ cũng góp phần nối dài đời sống của di sản.

Nhìn lại tấm hình, điều khiến ta xúc động là những tên tuổi lớn ấy đã từng đứng gần nhau đến thế, giản dị đến thế. Họ đã đi qua một thời đất nước gian lao; rồi bằng tài năng và sự dấn thân, để lại cho chúng ta những trang viết còn có thể đọc, hiểu và yêu sau nhiều chục năm.

Bây giờ, tất cả những người trong ảnh đều đã khuất. Cây rừng, áo vải, dáng ngồi và nụ cười còn lại trong một khoảnh khắc do Trần Văn Lưu giữ gìn. Còn ngoài khung ảnh, những nhân vật của họ vẫn tiếp tục bước vào đời sống bạn đọc.

Tôi tin sẽ có thêm nhiều thế hệ em nhỏ mở “Dế Mèn phiêu lưu ký”. Một người trưởng thành tìm đọc lại Nam Cao. Một lớp học cùng bàn về ông Hai, về bé Hồng, về Mị. Từ những cuộc gặp gỡ ấy, sự tri ân có được hình hài cụ thể: người đi trước vẫn được lắng nghe, và những trang sách họ để lại vẫn giúp người hôm nay sống sâu sắc hơn với con người, với quê hương mình.

Hà Nội, 14/10/2026
Đặng Vương Hưng

Đặng Vương Hưng

Nguồn VHPT: https://vanhoavaphattrien.vn/mot-buc-anh-thoi-chien-khu-viet-bac-ca-mot-mien-ky-uc-van-chuong-a35436.html