Một năm chính quyền ba cấp: Khẳng định tính đúng đắn của cuộc cách mạng về tổ chức bộ máy

Đối với một cuộc cách mạng về tổ chức bộ máy có quy mô lớn nhất kể từ sau công cuộc đổi mới, khoảng thời gian một năm bước đầu cho phép nhìn nhận và đánh giá một vấn đề quan trọng: Mô hình mới đã vận hành trong thực tiễn như thế nào, những kết quả ban đầu đạt được ra sao và còn những vấn đề gì cần tiếp tục hoàn thiện.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự Lễ công bố các nghị quyết, quyết định về sáp nhập đơn vị hành chính tại TP Hồ Chí Minh, ngày 30/6/2025. Ảnh: TTXVN

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự Lễ công bố các nghị quyết, quyết định về sáp nhập đơn vị hành chính tại TP Hồ Chí Minh, ngày 30/6/2025. Ảnh: TTXVN

Một năm không phải là quãng thời gian dài trong tiến trình phát triển của một quốc gia. Tuy nhiên, đối với một cuộc cách mạng về tổ chức bộ máy có quy mô lớn nhất kể từ sau công cuộc đổi mới, khoảng thời gian ấy bước đầu cho phép nhìn nhận và đánh giá một vấn đề quan trọng: Mô hình mới đã vận hành trong thực tiễn như thế nào, những kết quả ban đầu đạt được ra sao và còn những vấn đề gì cần tiếp tục hoàn thiện.

Thực tiễn đã đưa ra câu trả lời tích cực

Trong thời gian rất ngắn, cả hệ thống chính trị đồng thời thực hiện nhiều nhiệm vụ chưa từng có tiền lệ: sắp xếp lại đơn vị hành chính trên phạm vi cả nước, kết thúc hoạt động của chính quyền cấp huyện, tổ chức lại bộ máy các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể; ban hành hàng trăm văn bản quy phạm pháp luật; bố trí, điều động đội ngũ cán bộ; chuyển giao hàng nghìn nhiệm vụ giữa các cấp chính quyền; đồng thời vẫn bảo đảm hoạt động quản lý nhà nước diễn ra liên tục, không để gián đoạn việc giải quyết công việc của người dân và doanh nghiệp. Đó chính là phép thử đầu tiên và cũng là thước đo quan trọng nhất đối với mô hình chính quyền ba cấp.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhiều lần nhấn mạnh rằng cuộc cách mạng về tổ chức bộ máy không đơn thuần là sắp xếp lại các cơ quan hành chính, mà là tạo dựng một nền quản trị mới đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhiều lần nhấn mạnh rằng cuộc cách mạng về tổ chức bộ máy không đơn thuần là sắp xếp lại các cơ quan hành chính, mà là tạo dựng một nền quản trị mới đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, việc tinh gọn bộ máy phải được thực hiện với “yêu cầu chung là bộ máy mới phải tốt hơn bộ máy cũ và đi vào hoạt động ngay; không để ngắt quãng công việc, không để khoảng trống về thời gian, không để bỏ trống địa bàn, lĩnh vực; không để ảnh hưởng đến các hoạt động bình thường của xã hội, của người dân...”. Chính yêu cầu đó đã trở thành nguyên tắc xuyên suốt trong quá trình tổ chức thực hiện mô hình chính quyền ba cấp.

Điều đáng ghi nhận là sau một năm vận hành, những kết quả đạt được không chỉ thể hiện ở việc bộ máy hoạt động ổn định, mà còn phản ánh qua những chuyển biến rõ nét về phương thức quản trị, chất lượng phục vụ nhân dân và năng lực điều hành của hệ thống hành chính. Những kết quả bước đầu ấy tiếp tục khẳng định tính đúng đắn của chủ trương đổi mới tổ chức bộ máy theo tinh thần các nghị quyết của Đảng, đồng thời tạo nền tảng quan trọng để xây dựng nền hành chính hiện đại, tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả.

Những con số khẳng định hiệu quả của cuộc cách mạng về tổ chức bộ máy

Hiệu quả của cuộc cách mạng về tổ chức bộ máy không thể chỉ được đánh giá bằng những nhận định mang tính định tính, mà phải được kiểm chứng bằng kết quả cụ thể trong thực tiễn. Sau một năm triển khai mô hình chính quyền ba cấp, hàng loạt chỉ số đã cho thấy những chuyển biến tích cực.

Từ 63 tỉnh, thành phố, hệ thống đơn vị hành chính được sắp xếp còn 34 đơn vị; 696 đơn vị hành chính cấp huyện kết thúc hoạt động; số đơn vị hành chính cấp xã được tổ chức lại từ hơn 10 nghìn xuống còn hơn 3.300 đơn vị

Trước hết là việc tổ chức lại bộ máy hành chính trên phạm vi cả nước. Từ 63 tỉnh, thành phố, hệ thống đơn vị hành chính được sắp xếp còn 34 đơn vị; 696 đơn vị hành chính cấp huyện kết thúc hoạt động; số đơn vị hành chính cấp xã được tổ chức lại từ hơn 10 nghìn xuống còn hơn 3.300 đơn vị. Song song với đó là việc tiếp tục sắp xếp các thôn, tổ dân phố theo hướng tinh gọn, phù hợp với quy mô dân cư và yêu cầu quản trị trong giai đoạn mới.

Điều quan trọng hơn những con số giảm đầu mối là bộ máy đã được thiết kế lại theo hướng giảm tầng nấc trung gian, rút ngắn quá trình chỉ đạo, điều hành và tăng tính chủ động của chính quyền cơ sở.

Trong toàn hệ thống chính trị, nhiều đầu mối trung gian được sắp xếp lại. Khối Đảng, chính quyền địa phương kết thúc hoạt động của các tổ chức cấp huyện, đồng thời thành lập hệ thống tương ứng tại các xã, phường và đặc khu mới. Khối Chính phủ tiếp tục tinh gọn các bộ, cơ quan ngang bộ; giảm hàng nghìn cục, vụ, chi cục; các địa phương đồng thời tổ chức lại hệ thống cơ quan chuyên môn phù hợp với mô hình quản trị mới.

Nếu như trước đây bộ máy được tổ chức theo hướng nhiều tầng nấc thì nay khoảng cách từ Trung ương đến cơ sở đã được rút ngắn đáng kể. Quyết định hành chính vì thế có điều kiện đến với người dân nhanh hơn, đồng thời giảm đáng kể các khâu trung gian trong quá trình thực thi.

Tinh gọn tổ chức chỉ là điều kiện cần. Điều kiện đủ để mô hình mới phát huy hiệu quả là phân định lại chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền giữa các cấp chính quyền. Trong một năm qua, hàng trăm văn bản về phân cấp, phân quyền được ban hành; gần mười nghìn nhiệm vụ trong toàn hệ thống chính trị được rà soát và xác định lại. Riêng khối Chính phủ đã chuyển giao hơn 1.400 nhiệm vụ cho địa phương; sau khi kết thúc cấp huyện, hàng trăm nhiệm vụ được chuyển trực tiếp về cấp xã. Chính quyền cấp xã hiện đảm nhiệm gần một nghìn nhiệm vụ, trở thành cấp chính quyền trực tiếp giải quyết phần lớn công việc của người dân và doanh nghiệp.

Đây không đơn thuần là sự điều chỉnh kỹ thuật trong quản lý nhà nước, mà phản ánh sự thay đổi căn bản trong tư duy quản trị. Trung ương tập trung xây dựng thể chế, hoạch định chính sách và kiểm tra, giám sát; địa phương được trao nhiều quyền chủ động hơn trong tổ chức thực hiện, đồng thời chịu trách nhiệm rõ ràng hơn về kết quả.

Người dân sử dụng robot AI hỗ trợ, tư vấn các thủ tục hành chính tại Chi nhánh số 01 Trung tâm Phục vụ hành chính công Thành phố Hà Nội. Ảnh: LÊ HẢI

Người dân sử dụng robot AI hỗ trợ, tư vấn các thủ tục hành chính tại Chi nhánh số 01 Trung tâm Phục vụ hành chính công Thành phố Hà Nội. Ảnh: LÊ HẢI

Một chuyển biến quan trọng khác là cải cách thủ tục hành chính tiếp tục đạt nhiều kết quả tích cực. Hơn năm nghìn thủ tục hành chính đã được công khai trên Cổng Dịch vụ công quốc gia; gần năm nghìn thủ tục được cung cấp trực tuyến và kết nối với hệ thống dữ liệu của các bộ, ngành, địa phương. Chính phủ đồng thời cắt giảm, đơn giản hóa hàng nghìn thủ tục và điều kiện kinh doanh, góp phần rút ngắn thời gian xử lý, giảm đáng kể chi phí tuân thủ cho người dân và doanh nghiệp.

Nếu như trước đây cải cách hành chính chủ yếu hướng tới giảm giấy tờ thì nay mục tiêu cao hơn là giảm chi phí xã hội, nâng cao năng suất của nền kinh tế và tạo thuận lợi tối đa cho hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Song hành với cải cách thủ tục hành chính là bước tiến mạnh mẽ trong chuyển đổi số. Tỷ lệ hồ sơ được thực hiện trực tuyến đạt trên 90%; tỷ lệ số hóa hồ sơ đạt gần 95%; hàng triệu hồ sơ đã được khai thác và tái sử dụng dữ liệu thay vì yêu cầu người dân phải kê khai nhiều lần.

Song hành với cải cách thủ tục hành chính là bước tiến mạnh mẽ trong chuyển đổi số. Tỷ lệ hồ sơ được thực hiện trực tuyến đạt trên 90%; tỷ lệ số hóa hồ sơ đạt gần 95%; hàng triệu hồ sơ đã được khai thác và tái sử dụng dữ liệu thay vì yêu cầu người dân phải kê khai nhiều lần.

Thực tế tại nhiều địa phương cho thấy hiệu quả của mô hình mới đã bắt đầu được kiểm chứng. Tại Quảng Ninh, Trung tâm điều hành thông minh (IOC) tiếp tục hỗ trợ lãnh đạo địa phương giám sát hoạt động quản lý theo thời gian thực; tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, nhiều thủ tục hành chính được tiếp nhận, xử lý trên môi trường số, giảm đáng kể thời gian đi lại của người dân; nhiều địa phương triển khai mô hình "một cửa số", "phi địa giới hành chính", từng bước hình thành phương thức phục vụ mới lấy người dân làm trung tâm.

Điều này cho thấy nền hành chính đang từng bước chuyển từ phương thức quản lý dựa trên hồ sơ giấy sang quản trị dựa trên dữ liệu. Dữ liệu không chỉ giúp rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục mà còn tạo điều kiện để các cơ quan quản lý nâng cao chất lượng điều hành, tăng tính minh bạch và cải thiện hiệu quả phục vụ.

Sau một năm vận hành mô hình mới, các địa phương đã tiếp nhận hơn 42 triệu hồ sơ hành chính với tỷ lệ giải quyết đúng và trước hạn đạt trên 95%; công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo tiếp tục được duy trì ổn định; mức độ hài lòng của người dân đạt trên 83%, trong khi gần 90% người được khảo sát cho rằng tình trạng gây phiền hà, sách nhiễu trong giải quyết công việc đã giảm rõ rệt.

Thước đo cuối cùng của mọi cuộc cải cách vẫn là sự hài lòng của người dân. Sau một năm vận hành mô hình mới, các địa phương đã tiếp nhận hơn 42 triệu hồ sơ hành chính với tỷ lệ giải quyết đúng và trước hạn đạt trên 95%; công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo tiếp tục được duy trì ổn định; mức độ hài lòng của người dân đạt trên 83%, trong khi gần 90% người được khảo sát cho rằng tình trạng gây phiền hà, sách nhiễu trong giải quyết công việc đã giảm rõ rệt.

Những con số ấy cho thấy cuộc cách mạng về tổ chức bộ máy không chỉ làm thay đổi cơ cấu tổ chức của bộ máy mà quan trọng hơn là từng bước nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân. Đó cũng chính là mục tiêu cao nhất của mọi cuộc cải cách hành chính.

Điều cốt lõi là đổi mới tư duy quản trị

Nếu những con số về tinh gọn bộ máy, phân cấp, phân quyền hay cải cách thủ tục hành chính phản ánh kết quả bước đầu của cuộc cách mạng về tổ chức bộ máy, thì giá trị sâu xa hơn của mô hình chính quyền ba cấp lại nằm ở một sự thay đổi mang tính nền tảng: đổi mới tư duy quản trị quốc gia.

Lịch sử phát triển cho thấy, mọi cuộc cải cách thành công đều không dừng lại ở việc thay đổi cơ cấu tổ chức, mà hướng tới thay đổi phương thức vận hành của bộ máy. Một nền hành chính hiện đại không được đo bằng số lượng cơ quan nhiều hay ít, mà bằng năng lực giải quyết công việc, khả năng phục vụ nhân dân và hiệu quả tạo động lực phát triển.

Công chức tại Điểm tiếp nhận, phục vụ hành chính công phường Kim Liên hướng dẫn người dân lấy số để thực hiện các thủ tục hành chính. Ảnh: KHÁNH HUY

Công chức tại Điểm tiếp nhận, phục vụ hành chính công phường Kim Liên hướng dẫn người dân lấy số để thực hiện các thủ tục hành chính. Ảnh: KHÁNH HUY

Chính ở góc độ đó, mô hình chính quyền ba cấp mở ra một bước chuyển quan trọng trong tư duy quản trị của Nhà nước. Trong nhiều năm, cùng với quá trình phát triển của đất nước, mô hình quản lý nhiều tầng nấc đã góp phần bảo đảm sự ổn định trong điều hành. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển mới, khi tốc độ của nền kinh tế số, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế ngày càng nhanh, mô hình ấy cũng bộc lộ những giới hạn nhất định. Không ít công việc phải trải qua nhiều cấp trung gian, nhiều quy trình xin ý kiến; có việc thuộc thẩm quyền địa phương nhưng vẫn phải chờ cấp trên quyết định; trách nhiệm giữa các cấp có lúc chưa thật sự rõ ràng, làm giảm tính chủ động của cơ sở và kéo dài thời gian xử lý công việc.

Cuộc cách mạng về tổ chức bộ máy lần này không chỉ nhằm giảm một cấp hành chính. Điều quan trọng hơn là thiết lập lại mối quan hệ giữa Trung ương và địa phương theo hướng rõ chức năng, rõ thẩm quyền, rõ trách nhiệm. Theo đó, Trung ương tập trung hơn vào hoạch định chiến lược, hoàn thiện thể chế, xây dựng chính sách và tăng cường kiểm tra, giám sát; cấp tỉnh giữ vai trò điều phối phát triển và phân bổ nguồn lực; còn cấp xã trở thành cấp chính quyền trực tiếp quản trị địa bàn, gần dân, sát dân và giải quyết phần lớn công việc của người dân, doanh nghiệp. Đó là sự thay đổi không chỉ về sơ đồ tổ chức, mà còn về triết lý quản trị.

Nếu trước đây, hiệu quả hoạt động của bộ máy thường được đánh giá chủ yếu qua việc thực hiện đúng quy trình, thì nay yêu cầu cao hơn là phải tạo ra kết quả cụ thể. Bộ máy không chỉ làm đúng quy định mà còn phải giải quyết công việc nhanh hơn, hiệu quả hơn, minh bạch hơn và đáp ứng tốt hơn yêu cầu của người dân và doanh nghiệp. Từ tư duy "quản lý" sang tư duy "phục vụ", từ chú trọng quy trình sang coi trọng chất lượng đầu ra, đó chính là bước chuyển có ý nghĩa lâu dài của cuộc cách mạng về tổ chức bộ máy.

Sự thay đổi ấy được thể hiện rõ nhất ở chính quyền cơ sở. Sau khi không còn cấp huyện, chính quyền cấp xã không chỉ thực hiện các nhiệm vụ hành chính thường xuyên mà trực tiếp đảm nhiệm nhiều lĩnh vực trước đây thuộc thẩm quyền của cấp huyện, từ đất đai, xây dựng, đầu tư công đến tài chính, tư pháp, môi trường, an sinh xã hội và chuyển đổi số. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc vai trò của người đứng đầu cấp xã được nâng lên rõ rệt. Họ không chỉ là người điều hành bộ máy hành chính, mà phải trở thành người tổ chức phát triển địa phương, dám quyết định, dám chịu trách nhiệm và chịu sự giám sát trực tiếp của nhân dân.

Đây cũng là yêu cầu xuyên suốt mà Đảng nhiều lần nhấn mạnh: phân cấp, phân quyền phải đi đôi với phân định rõ trách nhiệm, tăng cường kiểm soát quyền lực và đề cao trách nhiệm của người đứng đầu. Quyền hạn được trao nhiều hơn đồng nghĩa với trách nhiệm cũng phải cao hơn; quyền lực càng được phân cấp thì cơ chế giám sát càng phải chặt chẽ.

Người dân đến làm thủ tục hành chính tại Ủy ban nhân dân xã Minh Châum. Ảnh: Quốc Toản.

Người dân đến làm thủ tục hành chính tại Ủy ban nhân dân xã Minh Châum. Ảnh: Quốc Toản.

Một điểm nhấn khác của mô hình chính quyền ba cấp là sự chuyển dịch từ phương thức quản lý dựa trên hồ sơ giấy sang quản trị dựa trên dữ liệu.Trong nền hành chính truyền thống, mỗi cơ quan thường quản lý một hệ thống thông tin riêng; dữ liệu bị chia cắt; người dân nhiều lần phải cung cấp cùng một loại giấy tờ; cán bộ dành không ít thời gian cho việc kiểm tra, xác minh hồ sơ. Điều đó làm gia tăng chi phí xã hội, giảm hiệu quả quản lý và chưa khai thác được giá trị của dữ liệu.

Ngày nay, cùng với chuyển đổi số, dữ liệu đang từng bước trở thành nền tảng của hoạt động quản trị. Hồ sơ điện tử được tái sử dụng; các cơ sở dữ liệu quốc gia và chuyên ngành từng bước được kết nối; dịch vụ công ngày càng được thực hiện trên môi trường số; nhiều địa phương đã bắt đầu điều hành thông qua các trung tâm điều hành thông minh (IOC), trợ lý ảo AI hay các nền tảng phân tích dữ liệu phục vụ công tác quản lý.

Điều đó cho thấy quản trị hiện đại không chỉ dựa vào kinh nghiệm hay các báo cáo hành chính truyền thống, mà ngày càng dựa trên dữ liệu thời gian thực. Khi dữ liệu được kết nối đầy đủ, người đứng đầu có thể theo dõi tiến độ thực hiện nhiệm vụ, phát hiện kịp thời những điểm nghẽn, đánh giá chính xác hiệu quả hoạt động của từng cơ quan, từng cán bộ và đưa ra quyết định dựa trên bằng chứng thay vì cảm tính.

Có thể nói, nếu bộ máy là "khung xương" của nền hành chính thì dữ liệu chính là "mạch máu" bảo đảm cho bộ máy ấy vận hành thông suốt, minh bạch và hiệu quả. Tất nhiên, mọi sự thay đổi đều cần thời gian để hoàn thiện. Sau một năm triển khai, ở một số địa phương vẫn còn những khó khăn về đội ngũ cán bộ, năng lực quản trị, hạ tầng số và sự đồng bộ của thể chế. Song nhìn từ tổng thể, đó là những vấn đề của quá trình chuyển đổi, không làm thay đổi bản chất và xu hướng tích cực của cuộc cách mạng về tổ chức bộ máy.

Điều quan trọng là nền móng của một phương thức quản trị mới đã được hình thành. Một nền hành chính trong đó quyền lực được phân định rõ hơn, trách nhiệm được cá thể hóa cao hơn, dữ liệu trở thành nguồn lực mới của quản trị, còn người dân và doanh nghiệp thực sự là trung tâm của mọi hoạt động phục vụ. Đó mới là ý nghĩa sâu xa và bền vững nhất của mô hình chính quyền ba cấp.

Thực tiễn đang tiếp tục kiểm chứng giá trị của mô hình mới

Bất kỳ cuộc cải cách lớn nào cũng không thể tránh khỏi những khó khăn trong giai đoạn đầu triển khai. Lịch sử cải cách hành chính ở nhiều quốc gia cho thấy, càng là những quyết sách có tác động sâu rộng thì quá trình chuyển đổi càng đòi hỏi thời gian để thích ứng, hoàn thiện và phát huy đầy đủ hiệu quả. Mô hình chính quyền ba cấp của Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật đó.

Cán bộ, công chức xã đảo Nhơn Châu (tỉnh Gia Lai) nỗ lực vượt khó giải quyết thủ tục hành chính cho người dân. Ảnh: Hoàng Phúc Thắng.

Cán bộ, công chức xã đảo Nhơn Châu (tỉnh Gia Lai) nỗ lực vượt khó giải quyết thủ tục hành chính cho người dân. Ảnh: Hoàng Phúc Thắng.

Sau một năm vận hành, bên cạnh những kết quả tích cực đã được khẳng định, thực tiễn cũng đặt ra không ít vấn đề cần tiếp tục tháo gỡ. Tuy nhiên, điều quan trọng là phải nhìn đúng bản chất của những vấn đề ấy. Đó không phải là biểu hiện của sự thiếu đúng đắn trong chủ trương cải cách tổ chức bộ máy, mà chủ yếu là hệ quả tất yếu của quá trình chuyển đổi từ mô hình quản lý cũ sang mô hình quản trị mới.

Thực tế cho thấy, sau khi kết thúc hoạt động của cấp huyện, khối lượng công việc chuyển về cấp xã tăng lên rất lớn. Nhiều lĩnh vực quản lý trước đây thuộc thẩm quyền của cấp huyện như đất đai, xây dựng, đầu tư công, tài chính, môi trường, tư pháp hay chuyển đổi số nay được giao trực tiếp cho chính quyền cơ sở. Đây là bước chuyển phù hợp với yêu cầu phân cấp, phân quyền, song cũng đặt ra áp lực lớn đối với đội ngũ cán bộ ở cấp thực thi.

Ở một số địa phương, cơ cấu nhân lực vẫn đang trong quá trình kiện toàn; cán bộ phải kiêm nhiệm nhiều lĩnh vực; nguồn nhân lực có chuyên môn sâu về quy hoạch, đầu tư, tài chính hay công nghệ số còn thiếu. Những khó khăn ấy phần nào ảnh hưởng đến tiến độ xử lý công việc ở một số nơi.

Song cần thấy rằng, đây chủ yếu là những thách thức về năng lực thực thi trong giai đoạn đầu, chứ không phải hạn chế của mô hình tổ chức. Khi bộ máy tiếp tục được củng cố, đội ngũ được đào tạo theo vị trí việc làm và nguồn nhân lực được bố trí hợp lý hơn, những áp lực hiện nay sẽ từng bước được khắc phục.

Cùng với yêu cầu kiện toàn đội ngũ là nhiệm vụ tiếp tục hoàn thiện thể chế. Một cuộc cách mạng về tổ chức bộ máy không thể chỉ được bảo đảm bằng quyết tâm chính trị mà còn cần được nâng đỡ bởi một hệ thống pháp luật đồng bộ. Thực tiễn một năm qua cho thấy nhiều quy định được xây dựng trong điều kiện còn tồn tại cấp huyện cần tiếp tục được rà soát, sửa đổi để phù hợp với mô hình quản trị mới. Đây là công việc có khối lượng rất lớn, đòi hỏi vừa triển khai, vừa tổng kết thực tiễn, vừa tiếp tục bổ sung, hoàn thiện.

Đó cũng là quy luật của quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền hiện đại. Thể chế không phải là một hệ thống bất biến, mà luôn được hoàn thiện trên cơ sở thực tiễn vận hành và yêu cầu phát triển của đất nước.

Sự thành công của mô hình chính quyền ba cấp không chỉ phụ thuộc vào việc giảm đầu mối tổ chức, mà còn phụ thuộc rất lớn vào khả năng kết nối dữ liệu giữa các cấp, các ngành và các địa phương.

Một yêu cầu khác đang đặt ra là phải đẩy nhanh hơn nữa tiến trình chuyển đổi số. Sự thành công của mô hình chính quyền ba cấp không chỉ phụ thuộc vào việc giảm đầu mối tổ chức, mà còn phụ thuộc rất lớn vào khả năng kết nối dữ liệu giữa các cấp, các ngành và các địa phương. Nếu dữ liệu còn phân tán, quy trình còn phải xử lý trên nhiều hệ thống độc lập, cán bộ vẫn phải nhập lại cùng một thông tin nhiều lần thì những lợi thế của phân cấp, phân quyền sẽ chưa thể phát huy đầy đủ. Chính vì vậy, hoàn thiện hạ tầng số không chỉ là nhiệm vụ về công nghệ mà còn là yêu cầu của đổi mới phương thức quản trị. Khi dữ liệu được kết nối đồng bộ, nhiều quy trình sẽ được tự động hóa; thời gian giải quyết thủ tục tiếp tục được rút ngắn; người đứng đầu có thêm công cụ để điều hành, giám sát và đánh giá kết quả thực thi một cách khách quan, minh bạch.

Điều đáng ghi nhận là mặc dù phải đồng thời xử lý khối lượng công việc rất lớn trong quá trình chuyển đổi, bộ máy hành chính vẫn giữ được sự vận hành ổn định. Hoạt động giải quyết thủ tục hành chính không bị gián đoạn; tỷ lệ hồ sơ được xử lý đúng hạn vẫn duy trì ở mức cao; công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo tiếp tục được bảo đảm; mức độ hài lòng của người dân có xu hướng được cải thiện.

Thành phố Hải Phòng tiếp tục đầu tư phát triển hạ tầng giao thông để khai thác thế mạnh logistics. Ảnh: Nguyễn Đức Nghĩa.

Thành phố Hải Phòng tiếp tục đầu tư phát triển hạ tầng giao thông để khai thác thế mạnh logistics. Ảnh: Nguyễn Đức Nghĩa.

Có thể khẳng định, khi thể chế tiếp tục được hoàn thiện, đội ngũ cán bộ được kiện toàn, hạ tầng số được đầu tư đồng bộ và cơ chế phân cấp gắn chặt với phân bổ đầy đủ nguồn lực, những lợi thế của mô hình chính quyền ba cấp sẽ ngày càng được phát huy rõ nét hơn, góp phần xây dựng một nền hành chính hiện đại, chuyên nghiệp, hiệu lực, hiệu quả và phục vụ nhân dân ngày càng tốt hơn.

Lịch sử cho thấy, mọi cuộc cải cách lớn đều bắt đầu bằng việc thay đổi cách tổ chức bộ máy, nhưng chỉ thực sự thành công khi làm thay đổi tư duy quản trị và văn hóa phục vụ của nền hành chính. Chính ở phương diện này, mô hình chính quyền ba cấp đang mở ra một không gian cải cách rộng lớn hơn nhiều so với việc sắp xếp đơn vị hành chính đơn thuần.

Suy cho cùng, điều quyết định thành công của cuộc cách mạng về tổ chức bộ máy không phải là đã giảm bao nhiêu đầu mối hay ban hành bao nhiêu văn bản, mà là tạo dựng được một phương thức quản trị mới đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước. Chính ở phương diện đó, mô hình chính quyền ba cấp đã vượt ra ngoài ý nghĩa của một cuộc sắp xếp tổ chức đơn thuần để trở thành nền tảng cho quá trình xây dựng nền hành chính hiện đại, kiến tạo phát triển và phục vụ nhân dân.

TS. Đinh Thị Xuân Hòa Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/mot-nam-chinh-quyen-ba-cap-khang-dinh-tinh-dung-dan-cua-cuoc-cach-mang-ve-to-chuc-bo-may-post972445.html