Một ô cửa kính vỡ nói gì về kinh tế?
Một ô cửa kính vỡ tưởng như tạo thêm việc làm, nhưng câu chuyện của nhà kinh tế Frédéric Bastiat cho thấy mỗi quyết định kinh tế còn có những tác động khó nhìn thấy ngay.

Tác giả: Edward Chancellor / AlphaBooksNXB Tri Thức
Lược sử lãi suất
Cuốn sách của Edward Chancellor khảo cứu 5.000 năm lịch sử vay mượn, từ thế giới cổ đại tới các cuộc khủng hoảng hiện đại. Cuốn sách lý giải vai trò của lãi suất trong phân bổ vốn, định giá rủi ro, đồng thời phân tích những hệ quả khi lãi suất bị duy trì ở mức quá thấp.
Một ô cửa kính vỡ nói gì về kinh tế?
Một ô cửa kính vỡ tưởng như tạo thêm việc làm, nhưng câu chuyện của nhà kinh tế Frédéric Bastiat cho thấy mỗi quyết định kinh tế còn có những tác động khó nhìn thấy ngay.
Những gì được thấy và những gì không được thấy
Vào năm Bastiat qua đời, tập tiểu luận cuối cùng của ông được xuất bản. Trong bài viết “What is Seen and What is Not Seen” (Những gì được thấy và những gì không được thấy), Bastiat kể câu chuyện ngụ ngôn về một chủ tiệm tên là Jacques Bonhomme, bị đứa con trai bất cẩn làm vỡ ô cửa kính của cửa hàng.
Những người hàng xóm cho rằng đó không hẳn là tin xấu. Ít nhất thì việc sửa nó cũng tạo công ăn việc làm cho thợ kính, và người này có thể dùng số tiền đó để mua thực phẩm và những thứ khác. Nhưng theo Bastiat, Jacques Bonhomme giờ sẽ có ít tiền chi tiêu hơn.
Qua câu chuyện này, Bastiat muốn độc giả suy nghĩ về những hệ quả rộng lớn hơn của mọi hành động kinh tế, chứ không chỉ tác động của chúng đối với một người hưởng lợi cụ thể:
Trong lĩnh vực kinh tế, một tập quán, một thể chế hoặc một đạo luật không chỉ tạo ra một tác động mà kéo theo hàng loạt tác động. Trong số đó, chỉ tác động đầu tiên là được thấy ngay; nó được biểu lộ đồng thời với nguyên nhân của nó; đó là tác động được thấy. Những tác động còn lại chỉ xuất hiện sau đó; chúng không được thấy; chúng ta thật may mắn nếu có thể lường trước được chúng.

Một ô cửa kính vỡ tưởng như tạo thêm việc làm, nhưng thực tế mỗi quyết định kinh tế còn có những tác động khó nhìn thấy ngay.
Đây là sự khác biệt rõ ràng giữa một nhà kinh tế học yếu kém và một nhà kinh tế học giỏi. Nhà kinh tế học yếu kém chỉ chú ý đến tác động có thể thấy được, trong khi nhà kinh tế học giỏi sẽ xem xét cả những tác động có thể nhìn thấy và những tác động phải được lường trước.
Bastiat cho rằng nhà kinh tế học yếu kém theo đuổi một lợi ích nhỏ ở hiện tại để rồi sau đó phải gánh chịu một tổn thất lớn ở tương lai, trong khi nhà kinh tế học giỏi theo đuổi một lợi ích lớn trong tương lai dù phải chịu tổn thất nhỏ ở hiện tại.
Nhà báo người Mỹ Henry Hazlitt đã phát triển thêm câu chuyện Ô cửa vỡ của Bastiat trong cuốn Economics in One Lesson (Kinh tế học trong một bài học) (1946), một trong những cuốn sách bán chạy nhất của ông.
Cũng như Bastiat, Hazlitt than phiền về khuynh hướng cố hữu của con người là chỉ nhìn thấy những tác động tức thời của một chính sách nhất định, hoặc chỉ nhìn thấy những tác động của nó đối với một nhóm người đặc biệt, và bỏ qua việc tìm hiểu những tác động lâu dài của chính sách đó đối với không chỉ nhóm người đó mà còn đối với tất cả các nhóm người khác. Bỏ qua những hậu quả thứ cấp quả là sai lầm.
Hazlitt chỉ trích kinh tế học “mới” của thời đại mình, mà ông tin là chỉ xem xét những tác động ngắn hạn của các chính sách đối với những nhóm người cụ thể và bỏ qua những tác động dài hạn đối với toàn bộ cộng đồng.
Ông công kích cái mà ông gọi là “sự sùng bái” tình trạng đủ việc làm. Ý tưởng “hủy diệt sáng tạo” của Schumpeter phải được phép thực hiện mà không bị cản trở, Hazlitt viết, vì cho phép các ngành công nghiệp đang suy tàn biến mất cũng quan trọng đối với sức khỏe của nền kinh tế như việc để các ngành công nghiệp đang phát triển phải được lớn mạnh.
Hazlitt ví hệ thống giá cả trong một nền kinh tế cạnh tranh với bộ điều chỉnh tự động của một động cơ hơi nước. Bất kỳ nỗ lực nào nhằm ngăn giá giảm đều chỉ khiến những nhà sản xuất kém hiệu quả tiếp tục hoạt động.
Hazlitt cho rằng lãi suất giúp cân bằng cung và cầu về vốn. Tuy nhiên, nỗi sợ “ám ảnh” đối với những mức lãi suất ‘quá cao’ đã khiến các chính phủ theo đuổi những chính sách tiền tệ nới lỏng.
Hazlitt viết rằng chính sách tiền tệ nới lỏng tạo ra những méo mó về kinh tế... nó có xu hướng khuyến khích các đề án rủi ro cao vốn không thể tiếp tục nếu không được duy trì trong các điều kiện nhân tạo đã sản sinh ra chúng.
Về phía cung, việc giảm lãi suất một cách nhân tạo không khích lệ sự tằn tiện, tiết kiệm, và đầu tư bình thường. Nó làm giảm sự tích lũy vốn. Nó làm chậm sự gia tăng năng suất, tức là “sự tăng trưởng kinh tế” mà “những người cấp tiến” luôn sốt sắng thúc đẩy.
Hazlitt kết luận bằng cách trích dẫn một bài luận nổi tiếng của William Graham Sumner năm 1883. Trong bài luận này, Sumner mô tả việc A và B lập kế hoạch giúp X, nhưng lại bỏ qua tác động đối với C. C là “Người bị lãng quên”, một người “không bao giờ được nghĩ đến. Nạn nhân của nhà cải cách, nhà cải tạo xã hội và nhà từ thiện”.
Nguồn Znews: https://znews.vn/mot-o-cua-kinh-vo-noi-gi-ve-kinh-te-post1687549.html
