Một phương thức xét tuyển: Đơn giản hơn nhưng có thu hẹp cơ hội thí sinh?
Bộ GD&ĐT dự kiến từ năm 2028, mỗi ngành, chương trình đào tạo chỉ được sử dụng một phương thức xét tuyển. Chủ trương này nhằm giảm những “cửa” xét tuyển khác nhau và tăng tính công bằng, nhưng nhiều trường lo ngại việc chỉ còn một phương thức có thể làm giảm sự lựa chọn của thí sinh, đồng thời gây khó cho tuyển sinh.
Theo dự thảo sửa đổi quy định về tuyển sinh đại học được Bộ GD&ĐT công bố ngày 17/9, năm 2027 mỗi ngành, chương trình đào tạo được sử dụng tối đa 3 phương thức xét tuyển. Từ năm 2028, con số này giảm còn một.
Ở cấp cơ sở đào tạo, trường được sử dụng tối đa 5 phương thức, không tính xét tuyển thẳng và cử tuyển. Dự thảo hiện vẫn đang được lấy ý kiến, thời hạn đến ngày 23/9.
Theo GS Nguyễn Tiến Thảo, Vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học, Bộ GD&ĐT, việc thu hẹp số phương thức xuất phát từ thực tế một ngành có quá nhiều “cửa” xét tuyển có thể khiến những thí sinh có năng lực tương đương nhưng lựa chọn phương thức khác nhau lại được đối xử khác nhau.
Giai đoạn 2022-2026, hơn 2.000 chương trình đào tạo, tương đương trên 40% số chương trình sử dụng từ hai phương thức trở lên, có độ chênh giữa các phương thức từ 3 điểm trở lên. Điểm học bạ trong cùng mã ngành cũng cao hơn điểm thi tốt nghiệp THPT khá xa.
Từ góc nhìn của cơ quan quản lý, vấn đề không phải buộc tất cả trường phải sử dụng một loại điểm thi duy nhất. Mỗi ngành vẫn có thể lựa chọn phương thức phù hợp với yêu cầu đầu vào; kết quả thi riêng, học bạ hay chứng chỉ vẫn có thể được sử dụng nếu được cấu trúc minh bạch trong phương thức đã công bố.
Trường lo mất nguồn tuyển, thí sinh mất thêm một “cửa”
Tuy nhiên, tại tọa đàm lấy ý kiến về dự thảo diễn ra ngày 21/9, đại diện nhiều trường đại học bày tỏ lo ngại về phương án mỗi ngành chỉ còn một phương thức.
Bà Nguyễn Thị Thu Hà, Phó hiệu trưởng Trường Đại học Thăng Long, cho rằng việc giới hạn phương thức có thể gây khó cho các trường trong tuyển sinh và việc lựa chọn nguyện vọng của thí sinh.

Nếu chỉ còn một phương thức xét tuyển, nhiều trường đại học cho rằng sẽ khó tuyển sinh và hạn chế cơ hội của thí sinh. Ảnh minh họa
Theo bà, nếu trường tổ chức kỳ thi riêng, trường có xu hướng tuyển đủ chỉ tiêu từ nguồn thí sinh này. Trong khi đó, những trường không tổ chức kỳ thi riêng có thể không dám sử dụng phương thức đánh giá năng lực nếu nguồn tuyển bị thu hẹp. Khi đó, một nhóm thí sinh có kết quả từ các kỳ thi riêng có thể mất cơ hội tiếp cận một số ngành, trường.
Một rủi ro khác được bà Hà đặt ra là nếu một trường chọn học bạ vì dễ tuyển, tỷ lệ xét tuyển bằng phương thức này có thể tăng lên, kéo theo những lo ngại về chất lượng đầu vào.
PGS Trần Anh Dũng, Trưởng phòng Đào tạo Trường Đại học Hàng hải Việt Nam, cũng cho rằng các phương thức ngoài điểm thi tốt nghiệp THPT được sử dụng nhằm tăng chất lượng nguồn tuyển và cơ hội cho thí sinh.
Theo ông, nếu mỗi ngành chỉ được sử dụng một phương thức, các trường có xu hướng quay về sử dụng điểm thi tốt nghiệp THPT. Khi đó, việc cho phép một trường được sử dụng tối đa 5 phương thức ở cấp trường sẽ không còn nhiều ý nghĩa.
Đại diện Trường Đại học Giao thông vận tải cũng đặt vấn đề về rủi ro khi chỉ còn một con đường xét tuyển, đồng thời các trường đề xuất mỗi ngành, chương trình nên được xét tuyển bằng ít nhất 2-3 phương thức.
Một phương thức có đồng nghĩa với công bằng?
Ở chiều ngược lại, TS Lê Trường Tùng, Chủ tịch Hội đồng trường Trường Đại học FPT, cho rằng không nên chỉ dừng ở câu hỏi mỗi ngành được sử dụng bao nhiêu phương thức.
Theo ông, dự thảo dự kiến có 11 phương thức tuyển sinh, nhưng nếu nhìn về bản chất có thể quy về một số nhóm lớn: sử dụng kết quả thi tốt nghiệp THPT; kết quả học tập THPT; kết quả một kỳ thi hoặc đánh giá khác và các phương thức khác.
Xét tuyển thẳng là trường hợp đặc biệt; tuyển thí sinh tốt nghiệp chương trình nước ngoài cũng thuộc nhóm đối tượng riêng. Các kỳ thi đánh giá năng lực, đánh giá tư duy hay kỳ thi riêng về bản chất đều sử dụng kết quả của một kỳ đánh giá khác, trong khi phương thức kết hợp là cách kết hợp những nguồn dữ liệu tuyển sinh đã có. Dự thảo hiện liệt kê 11 mã phương thức, trong đó có điểm thi tốt nghiệp THPT, học bạ, kỳ thi chung, kỳ thi riêng, chứng chỉ quốc tế và phương thức kết hợp.
Từ đó, TS Tùng cho rằng câu hỏi đáng đặt ra trước khi bàn đến số lượng phương thức là: một hệ thống tuyển sinh đại học như thế nào được coi là công bằng?
Theo ông, có ba chủ thể trực tiếp liên quan đến tuyển sinh là thí sinh, trường đại học và Nhà nước. Nếu phải xác định thứ tự ưu tiên, ông đặt công bằng cho thí sinh lên trước, sau đó là thuận lợi cho thí sinh, quyền tự chủ của trường đại học và cuối cùng là thuận tiện trong quản lý nhà nước.
TS Tùng cho rằng không thể có công bằng tuyệt đối trong tuyển sinh. Gia đình có điều kiện có thể cho con học trường tốt hơn, học thêm, thuê gia sư, học ngoại ngữ hay luyện thi từ sớm. Nhà nước khó loại bỏ hoàn toàn những khác biệt này.
Tuy nhiên, theo ông, hệ thống tuyển sinh có thể hạn chế một dạng bất bình đẳng khác: những bất bình đẳng do chính quy chế tạo ra hoặc khuếch đại.
Ông đưa ra một ví dụ giả định: Một ngành có 500 chỉ tiêu và 1.000 thí sinh cùng vượt qua ngưỡng chất lượng. Nếu trường tổ chức đấu giá 500 chỗ và chọn những người chấp nhận trả học phí cao hơn, hệ thống này có thể minh bạch về cách thức, nhưng vẫn đặt ra câu hỏi về công bằng.
“Vấn đề là chúng ta đã dùng năng lực để xác định ai đủ điều kiện, nhưng lại dùng tiền để quyết định ai được học. Ví dụ đó cho thấy cần phân biệt hai việc: Sàn chất lượng trả lời ‘Có đủ khả năng học không?’. Điểm trúng tuyển trả lời ‘Khi số người đạt chuẩn lớn hơn số chỗ, ai được chọn?’. Không nên nhập hai việc làm một”, ông Tùng nói.
Theo TS Lê Trường Tùng, quy mô quốc gia có thể tạo ra một thước đo chung cho tuyển sinh đại học, thay vì để mỗi trường và mỗi thí sinh phải chạy theo quá nhiều hệ thống đánh giá.
Khi đó, câu hỏi mỗi trường được sử dụng 5, 3 hay 1 phương thức sẽ không còn là vấn đề cốt lõi. Điều quan trọng là phương thức được lựa chọn phải bảo đảm chuẩn đầu vào, minh bạch và tạo cơ hội tiếp cận công bằng.
“Không cần dùng quá nhiều quy định để ép hệ thống đơn giản. Hãy thiết kế một hệ thống vốn đã đơn giản. Và tiêu chuẩn để đánh giá hệ thống ấy nên theo đúng thứ tự: Công bằng cho thí sinh → Thuận lợi cho thí sinh → Tự chủ cho trường → Thuận tiện cho Nhà nước. Phương thức chỉ là công cụ. Công bằng mới là mục tiêu”, ông Tùng nói.
Dự thảo đang được Bộ GD&ĐT tiếp tục lấy ý kiến. Vì vậy, bên cạnh việc xác định số lượng phương thức, bài toán cần giải quyết là làm thế nào để một phương thức được lựa chọn vừa phù hợp với yêu cầu đầu vào của từng ngành, vừa bảo đảm thí sinh không bị đặt vào thế phải chạy theo những “cửa” xét tuyển thay đổi quá nhanh.


