Một số quy định về dự phòng rủi ro trong hoạt động ngân hàng được rà soát, hoàn thiện

Qua tổng hợp ý kiến, tiếp thu, giải trình đối với dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 86/2024/NĐ-CP ngày 11/7/2024 của Chính phủ quy định về mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và trường hợp tổ chức tín dụng phân bổ lãi phải thu phải thoái; và Nghị định số 01/2014/NĐ-CP ngày 3/1/2014 của Chính phủ về việc nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của tổ chức tín dụng Việt Nam... cho thấy Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã tiếp thu một số đề xuất nhằm cắt giảm thủ tục, cập nhật quy định pháp luật; đồng thời giữ nguyên nhiều quy định liên quan đến trích lập dự phòng, tài sản bảo đảm, phân loại nợ và điều kiện đối với nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần tổ chức tín dụng.

Rút thời gian xử lý hồ sơ mua cổ phần

Một trong những nội dung được NHNN tiếp thu đáng chú ý liên quan đến nghĩa vụ báo cáo việc trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro cho cơ quan thuế. Được biết, hiện Nghị định 86/2024/NĐ-CP đang quy định tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài báo cáo việc trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro cho cơ quan thuế nơi đặt trụ sở.

Góp ý đối với nội dung này, Bộ Tài chính cho rằng pháp luật về quản lý thuế, gồm Luật Quản lý thuế và các văn bản sửa đổi, bổ sung, hướng dẫn thi hành, cũng như các luật về thuế hiện nay không quy định việc tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải nộp báo cáo trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro cho cơ quan thuế.

Để bảo đảm đơn giản hóa thủ tục hành chính, không làm tăng thủ tục đối với người nộp thuế, Bộ Tài chính đề nghị NHNN không quy định các thủ tục hành chính về thuế tại văn bản do NHNN chủ trì soạn thảo.

NHNN tiếp thu một số đề xuất nhằm cắt giảm thủ tục, cập nhật quy định pháp luật; đồng thời giữ nguyên nhiều quy định liên quan đến trích lập dự phòng, tài sản bảo đảm, phân loại nợ và điều kiện đối với nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần tổ chức tín dụng. Ảnh: Hồng Sơn

NHNN tiếp thu một số đề xuất nhằm cắt giảm thủ tục, cập nhật quy định pháp luật; đồng thời giữ nguyên nhiều quy định liên quan đến trích lập dự phòng, tài sản bảo đảm, phân loại nợ và điều kiện đối với nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần tổ chức tín dụng. Ảnh: Hồng Sơn

NHNN tiếp thu ý kiến này. Theo bản tổng hợp, cơ quan soạn thảo chỉnh sửa Điều 2 dự thảo Nghị định thành: “Bãi bỏ điểm b khoản 2 Điều 15” Nghị định 86. Trước đó, từ ý kiến của Bộ Tài chính về việc pháp luật thuế không có yêu cầu báo cáo này, NHNN cũng xác định phương án bãi bỏ nhằm đơn giản hóa thủ tục hành chính, không tăng thủ tục cho người nộp thuế.

Ở một nội dung khác liên quan đến thủ tục hành chính, dự thảo sửa đổi quy định về nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của tổ chức tín dụng Việt Nam. Theo Nghị định 01/2014/NĐ-CP hiện hành, đối với trường hợp mua cổ phần dẫn đến mức sở hữu từ 10% vốn điều lệ trở lên hoặc mua cổ phần và trở thành nhà đầu tư chiến lược nước ngoài của một tổ chức tín dụng Việt Nam, thời hạn để NHNN xem xét, quyết định chấp thuận hoặc không chấp thuận là 40 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.

Tại dự thảo, thời gian này được đề xuất rút xuống “19 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ”. VietinBank góp ý rằng nếu chỉ rút thời hạn từ 40 ngày xuống 19 ngày nhưng không kiểm soát số lần yêu cầu sửa đổi, bổ sung hồ sơ, thời gian xử lý trên thực tế vẫn có thể kéo dài. Ngân hàng này đề nghị quy định cụ thể số lần NHNN yêu cầu bổ sung, làm rõ hồ sơ, chẳng hạn tối đa ba lần.

Phản hồi về nội dung này, NHNN cho biết thời gian xử lý tại dự thảo là thời hạn tối đa áp dụng đối với bộ hồ sơ đã hoàn chỉnh và hợp lệ theo nguyên tắc chung về giải quyết thủ tục hành chính. Cơ quan soạn thảo đồng thời đặt trách nhiệm đối với tổ chức tín dụng trong việc rà soát, chuẩn bị đầy đủ hồ sơ theo đúng quy định trước khi nộp cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.

Giữ nguyên nhiều nguyên tắc về tài sản bảo đảm, phân loại nợ và nhà đầu tư nước ngoài

Cơ quan soạn thảo cũng nhận được nhiều góp ý liên quan đến thời gian xử lý và xác định giá trị tài sản bảo đảm khi trích lập dự phòng.

Một số ngân hàng đề nghị kéo dài thời gian trước khi giá trị khấu trừ của tài sản bảo đảm được xác định bằng 0, với lý do quá trình xử lý tài sản, nhất là bất động sản, trên thực tế có thể kéo dài do liên quan đến thủ tục tố tụng, thi hành án, thu giữ hoặc bán đấu giá.

Sau khi xem xét, NHNN giữ nguyên quy định hiện hành tại khoản 5 Điều 4 Nghị định 86. Theo giải trình, quy định này nhằm bảo đảm tổ chức tín dụng (TCTD) chủ động trích lập đầy đủ dự phòng, tạo nguồn xử lý rủi ro khi cần thiết; đồng thời không hạn chế thời gian thực tế xử lý tài sản bảo đảm của các TCTD. Với những tài sản khó thu hồi, TCTD vẫn có thể xác định tỷ lệ khấu trừ theo quy định nội bộ, phù hợp với Điều 6 Nghị định 86 và chất lượng khoản nợ.

Đối với đề nghị làm rõ thời điểm TCTD “có quyền xử lý tài sản bảo đảm”, NHNN cho biết nội dung này được xác định theo các trường hợp quy định tại Điều 299 Bộ luật Dân sự năm 2015, qua đó bảo đảm thống nhất với pháp luật dân sự hiện hành.

Một nội dung được các TCTD quan tâm là căn cứ phân loại nợ trên hệ thống của CIC để trích lập dự phòng. Hiệp hội Ngân hàng và Eximbank đề nghị cho phép TCTD sử dụng nhóm nợ tự phân loại đối với một số khoản vay có tài sản bảo đảm chất lượng cao, ngay cả khi khách hàng bị chuyển sang nhóm nợ rủi ro cao hơn tại ngân hàng khác.

Theo NHNN, khi khách hàng bị chuyển sang nhóm nợ có mức độ rủi ro cao hơn, khả năng trả nợ đã có dấu hiệu suy giảm và có thể tiềm ẩn rủi ro tại các TCTD khác. Do đó, việc trích lập dự phòng cần căn cứ vào nhóm nợ được phân loại theo khả năng trả nợ của khách hàng. Tài sản bảo đảm được xác định là nguồn thu nợ thứ cấp; trường hợp tài sản bảo đảm có chất lượng cao, hệ số khấu trừ tương ứng sẽ góp phần giảm số dự phòng phải trích.

Về thời điểm trích lập dự phòng, NHNN cho rằng cần thống nhất với thời điểm phân loại nợ theo Thông tư 31/2024/TT-NHNN do nội dung này liên quan đến cơ chế tài chính, kế toán và quản lý rủi ro của TCTD. Đối với Hội đồng xử lý rủi ro, NHNN giữ các trách nhiệm quy định tại Điều 10 Nghị định 86; đồng thời cho phép Hội đồng thực hiện thêm các công việc khác theo quy định nội bộ của từng TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

Ở nhóm quy định về nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần ngân hàng, dự thảo cụ thể hóa điều kiện xếp hạng tín nhiệm đối với tổ chức nước ngoài mua cổ phần dẫn đến sở hữu từ 10% vốn điều lệ của một TCTD tại Việt Nam.

Theo dự thảo Nghị định, tổ chức nước ngoài phải được S&P hoặc Fitch Ratings xếp hạng từ BBB- trở lên, hoặc Moody’s xếp hạng từ Baa3 trở lên tại thời điểm gần nhất tính đến ngày nộp hồ sơ. Với tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế khác, dự thảo đặt thêm yêu cầu về việc được ESMA đăng ký, công nhận hoặc được cơ quan có thẩm quyền của quốc gia thuộc G7 cho phép hoạt động.

Hiệp hội Ngân hàng đề nghị bổ sung cơ chế xác định mức tương đương đối với các tổ chức xếp hạng khác. NHNN không tiếp thu và giải trình rằng mỗi tổ chức xếp hạng tín nhiệm có hệ thống ký hiệu, thang điểm riêng; việc quy đổi tương đương có thể thực hiện trên cơ sở bảng ánh xạ tín nhiệm toàn cầu và xác suất vỡ nợ.

Bộ Tài chính và một số TCTD cũng đặt vấn đề mức xếp hạng BBB-/Baa3 đối với nhà đầu tư mua từ 10% cổ phần thấp hơn điều kiện đối với nhà đầu tư nước ngoài tham gia thành lập mới TCTD.

NHNN cho rằng cần phân biệt điều kiện áp dụng đối với nhà đầu tư nước ngoài thành lập mới TCTD và nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần tại TCTD đang hoạt động. Cơ quan soạn thảo cũng lý giải, trường hợp thành lập mới TCTD, nhà đầu tư phải cam kết nguồn lực lớn về vốn, công nghệ và nhân sự, đồng thời tham gia xây dựng, vận hành toàn bộ bộ máy và trực tiếp cung cấp dịch vụ ngân hàng. Vì vậy, trường hợp này đòi hỏi tiêu chuẩn đầu vào cao hơn. Trong khi đó, nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần tại một TCTD cổ phần hiện hữu chủ yếu tham gia với vai trò góp vốn vào tổ chức đã được thành lập và đang hoạt động. Do khác nhau về tính chất, phạm vi tham gia và mức độ cam kết nguồn lực, NHNN cho rằng việc quy định điều kiện khác nhau đối với hai trường hợp là có cơ sở.

Hồng Sơn

Nguồn TBNH: https://thoibaonganhang.vn/mot-so-quy-dinh-ve-du-phong-rui-ro-trong-hoat-dong-ngan-hang-duoc-ra-soat-hoan-thien-186245.html