Một vòng lễ cúng…
Cùng với các lễ tế là những hồi kèn, trống, chuông vang lên, tất cả mang không khí trang nghiêm và linh thiêng vô cùng…

Sân đình ngày xuân. ẢNH: THUẬN TRIỀU
Nghi lễ đặc biệt
“Giờ hành lễ bắt đầu, đại diện các tộc phái trong trang phục áo dài đen, quần trắng trang nghiêm đứng vào các vị trí đã được chỉ định. Hàng học trò lễ đứng im chờ lệnh. Cụ chánh bái trong trang phục áo tràng xanh, có hai cụ bên phải và trái mặc áo đỏ vàng cung tay bái trước mặt. Chiêng và trống nổi lên từng hồi, dàn nhạc bát âm hòa điệu. Vị tư lễ cao giọng xướng, ba vị bồi bái và hàng học trò lễ tiến hành những nghi thức theo lời xướng của vị tư lễ một cách nhịp nhàng…”.
Mô tả này được ghi nhận tại lễ kỵ chính thức ở đình Hòa Mỹ (phường Hòa Minh, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng cũ, nay là phường Hòa Khánh), sáng 13 tháng Giêng âm lịch. Sau phần lễ, đến phần hội. Trước một ngày đã có lễ vọng, lễ cầu an…, theo khảo cứu của nhóm tác giả in trong cuốn “Đình làng Đà Nẵng” (NXB Đà Nẵng – 2012).
Chỉ một đoạn ngắn nhưng sinh động, liệt kê và nhắc nhớ khá nhiều về tiểu ban nghi lễ vốn dĩ “xa lạ” với các bạn trẻ: Chánh bái, bồi bái (thường trên 60 tuổi, chịu trách nhiệm cúng tế trước bàn thờ), tư lễ (hay tư xướng, là người điều hành lễ, có hơi dài), học trò lễ (gồm 15 thanh niên chưa lập gia đình, có chỗ ghi 14 người, làm nhiệm vụ dẫn lễ).
Ngoài ra, một lễ cúng trọn vẹn, đầy đủ còn có thêm sự góp mặt những thành viên khác nữa trong ban khánh tiết, như tư văn (người chuyên viết văn và đọc văn tế), tư nhạc (người phụ trách dàn nhạc bát âm của phần lễ), chấp lệnh (người đánh trống lệnh), chinh cổ (người đánh chiêng trống)…
“Những phút giây lâng lâng khó tả”
Trình tự và nghi thức này giúp chúng ta có duyên cớ để quay về với lễ nghi của ngày đầu năm mới, ở một đình làng cụ thể như đình Hòa Mỹ, nơi đang lưu giữ 9 sắc phong của các vua triều Nguyễn.

Hình ảnh thân thuộc với cụ già áo dài khăn đóng bên chuông cổ ngoài đình làng. ẢNH: THUẬN TRIỀU
Công trình nghiên cứu “Đình làng Đà Nẵng” không chỉ mô tả cặn kẽ về lịch sử cũng như kiến trúc của 35 ngôi đình ở thành phố Đà Nẵng (cũ), trong đó có đình Hòa Mỹ và nhiều ngôi đình danh tiếng như An Hải, Cẩm Toại, Dương Lâm, Đà Sơn, Hải Châu, Lỗ Giáng, Mân Quang, Nam Thọ, Phong Lệ, Túy Loan… Thật thú vị khi nhận ra, ở nhiều di tích, nhóm tác giả còn cất công sưu tầm, ghi chép những lễ nghi riêng biệt. Đọc những trang viết đó, thấy tiết xuân đang ngập tràn (tất nhiên có khá nhiều lễ tế tổ chức ở những tháng khác trong năm).
Đơn cử với lễ hội mùng 9 và 10 tháng Giêng ở đình Túy Loan (Hòa Vang). “Khi không khí Tết còn lan tỏa khắp nơi thì nhân dân, các vị trưởng tộc cùng ban lãnh đạo địa phương hồ hởi chuẩn bị lễ hội đình làng một cách rầm rộ và chu đáo. (…) Cùng với các lễ tế là những hồi kèn, trống, chuông vang lên, tất cả mang một không khí rất trang nghiêm và linh thiêng vô cùng” (Sđd, trang 245).
Theo một số nhà nghiên cứu, cúng kiếng dịp Tết thường bắt đầu với gia tiên và tổ tiên, được xem là 2 “cấp độ thờ cúng” đối với những người theo tín ngưỡng tổ tiên. Rời nhà ra ngõ, điểm đến kế tiếp là đình làng. Ấy là nơi thờ phụng, trung tâm thiêng, biểu hiện của đời sống tâm linh của nhân dân, nơi cầu mưa thuận gió hòa…
Đình làng nguyên thủy phục vụ cho nhân sinh. Nhưng có nhiều lý do để lo lắng khi Tết ngày nay nhiều người không còn ra với đình làng nữa. Các gia đình lui về với không gian riêng, chỉ đi thăm thú nhau. Để rồi, ở nhiều nơi, đình làng chỉ còn lại “công năng” tế tự, tức chỉ có lễ; phần nhân sinh (phần hội) dần đi vào quên lãng.
Chính vì thế, những công trình khảo cứu về phần lễ tưởng khô cứng nhưng rất cần thiết, ít nhất cũng giúp đánh thức ký ức trước khi bị mất mát hoặc sai lệch. Sau đó, đến lượt phần hội cũng phải đủ phong phú để “kéo” người ta hòa mình vào không gian công cộng. Đã có những trò chơi Tết theo thời gian không còn nữa, như chuyện cũ ở Hội Sơn, xã Duy Nghĩa (huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam cũ) mà tác giả Phạm Hữu Đăng Đạt ghi nhận trong “Chuyện xưa xứ Quảng”.
Nhà văn Sơn Nam, trong một công trình khảo cứu về đình miếu và lễ hội dân gian, cho rằng đình làng trở thành dấu ấn ăn sâu vào tiềm thức. Yêu đình làng là yêu bà con họ hàng, chòm xóm, yêu đất nước… “Nhiều người chỉ nhớ bóng dáng ngôi đình hồi thuở bé, rồi đi học, ra nước ngoài nhưng về già, dịp Tết bỗng thấy nao nao, nhớ cây đa đình làng, với những phút giây lâng lâng khó tả”, ông viết.
Cảm xúc “nao nao”, “lâng lâng khó tả” ấy ắt hẳn sẽ còn được cảm nhận trọn vẹn hơn, khi bạn chứng kiến một vòng lễ cúng từ bàn thờ gia tiên ra đến đình làng trong những ngày đầu năm mới…
Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/mot-vong-le-cung-3325342.html












