Mùa Xuân luận về cái đẹp
Xuân bước nhẹ trên nhành non lá mới (Tố Hữu). Mùa Xuân đồng nghĩa với sức sống, tình yêu và cái đẹp. Nhưng nào ai định nghĩa được mùa Xuân là gì cũng như đi đến tận cùng thế nào là đẹp? Đẹp trong mắt kẻ si tình hay đẹp nơi má hồng thiếu nữ? Ở đây hoàn toàn mang tính quan niệm, khách thể và chủ thể đan xen, hòa trộn vào nhau. Chỉ biết rằng đẹp là đẹp. Mùa Xuân đến ai cũng thấy đẹp. Có mùa Xuân tuần hoàn. Có mùa xuân ra đi không bao giờ trở lại: Ngán nỗi xuân đi, xuân lại lại (Hồ Xuân Hương); Dẫu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại (Xuân Diệu). Thôi thì cứ đón mùa Xuân với tất cả những gì đẹp nhất, tin yêu nhất.
Đẹp như tiên
Đẹp như tiên là lời khen tuyệt mỹ, nhưng chưa ai biết đích thực tiên là gì, đẹp đến cỡ nào! Thế nhưng từ bao đời nay, trong tâm thức người Việt, tiên vẫn đẹp nhất. Ở các nước, đẹp nhất là các vị thần như nữ thần Damunna (Ấn Độ), nữ thần Idanami (Nhật Bản), hay nữ thần Aphơrôđittơ còn gọi là thần Vệ Nữ của Hy Lạp. Khi ta vẽ tranh, tạc tượng người đẹp cũng thường có tranh tượng của các vị thần sắc đẹp. Những bức tranh vẽ nữ thần Idanami tuyệt đẹp, những tượng Damunna hay tượng Vệ Nữ, tượng nam thần Apôlông,… đều là hình ảnh những người đẹp lí tưởng, không thể có trong thế giới trần tục. Đó là cái đẹp để ngưỡng mộ, con người chẳng bao giờ vươn tới được.

Nữ thần Idanamai (Nhật Bản)
Còn người đẹp ở trần gian, nếu có chăng, theo quan niệm xưa thì, một là phải nhờ trời sinh, hai là phải thuộc về dòng dõi quý tộc. Ngọc Hoàng thượng đế tạo ra muôn loài đã gạn lấy chất trong suốt, tinh túy nhất để nặn ra con người (truyện thần thoại Việt Nam). Còn Chúa trời thì lấy đất sét để nặn ra con người, hà sinh khí để thành người đầu tiên là Adam; rồi lấy xương sườn Adam nặn thành hình Êva - người đàn bà khởi đầu trên trái đất (Kinh Thánh). Những con người ấy sống vô cùng vất vả, chỉ khi nào không còn vất vả nữa mới thành người đẹp; nghĩa là phải nhập vào hàng thượng lưu, quyền quý. Chàng Thạch Sanh trở thành phò mã, cô Tấm trở thành hoàng hậu. Muốn trút bỏ cái lốt lam lũ của mình thì phải cầu viện thần linh; phải có lọ nước thần thì mới trắng đẹp như tiên, phải có quần áo của Bụt hóa phép thì mới trở thành người đẹp để đi xem hội …

Nữ thần Artemis - nữ thần săn bắn, trinh tiết và sinh nở trong thần thoại Hy Lạp
Như vậy, tìm một cách nghĩ khác về nguồn gốc cái đẹp ngoài yếu tố thần linh, quả thực, không dễ chút nào! Trong xã hội cũ, do cuộc sống khổ cực và bế tắc: Đã khổ không yên cả đứng ngồi (Huy Cận), nên con người muốn trốn vào mơ ước hoang đường. Đúng hơn là, tầng lớp thống trị đã tước đoạt từ người lao động, giành hưởng hết mọi cái đẹp về mình; người bình dân đành phải tìm cái đẹp trong trí tưởng tượng, hoặc họ tự đặt ra một chuẩn mực riêng: Một thương tóc bỏ đuôi gà/ Hai thương ăn nói mặn mà có duyên” hay “Ai trắng như bông lòng tôi không chuộng/Ai đó đen giòn làm ruộng tôi thương (Ca dao). Rốt cuộc, thành ngữ “đẹp như tiên” chỉ là niềm mơ ước, ở tít tận đâu đâu. Nhưng tôn thờ, sáng tạo và hướng tới nó lại thuộc về bản tính con người; C.Mác triết lí chuẩn xác: “Con người hoạt động theo quy luật cái đẹp”.
Người đẹp, sống đẹp
Tất cả mọi cái đẹp trong con người đều phải đẹp (Sêkhốp). Trong truyện cổ tích Lọ nước thần, khi người vợ nhờ lọ nước kì diệu mà trở nên sắc nước hương trời, anh chồng lực điền đắm say, muốn ở nhà thụ hưởng mà không được, bởi còn phải đi cày làm ra lúa gạo (nuôi vợ - nuôi mình). Anh bèn vẽ hình vợ mang theo, dựng bên bờ ruộng để vừa cày vừa ngắm cho thỏa. Lại một chuyện nữa: sau cuộc kì ngộ ngẫu nhiên với hiệp sĩ Lục Vân Tiên, Nguyệt Nga tương tư đến héo mòn dung nhan; đành vẽ chân dung chàng để đi đâu mang theo đó, đặng nguôi vơi phần nào nỗi nhớ. Đến người con gái bình dân trong ca dao thì không được ngồi trong buồng the để vẽ, mà phải: Lên non bẻ lá họa hình/ Họa cho thấy mặt kẻo tình nhớ thương. Cả ba câu chuyện hoàn toàn hư cấu nhưng đều nói đến vai trò tình cảm và kí ức của người vẽ chân dung.

Kiểu Nguyệt Nga trong tranh dân gian Đông Hồ
Điều đó còn liên quan đến ý niệm về cái đẹp ở con người. Chắc rằng, Nguyệt Nga tương tư Lục Vân Tiên không vì si mê dáng vẻ bên ngoài; hay anh chồng lực điền, cô gái bình dân kia, họa chân dung người vợ, người yêu cũng không chỉ đắm say làn da, mái tóc... Người ta vẫn giải thích cái đẹp thông qua cái hài hòa giữa nội dung và hình thức, bên trong và bên ngoài. Ở con người, sự hài hòa này càng đạt tới chuẩn mực cao hơn. Ấy là vẻ đẹp của thể chất và tinh thần, nhận thức và hành động, lời nói và việc làm, tâm hồn và trí tuệ, tình cảm và lí trí... Một trong hai thành tố tùy theo sự biểu hiện sẽ tạo tương quan nội dung và hình thức: hoặc cân đối hài hòa, hoặc không cân đối hài hòa; đẹp hay không đẹp cũng từ đó mà ra.
Sự phát triển đồng bộ giữa thể chất và tinh thần là mơ ước muôn đời của con người trên trái đất. Khi tạo chân dung mình, con người đã phác họa xong nét vẽ thứ nhất (thể chất) cách đây hàng chục ngàn năm. Nhưng nét vẽ thứ hai (tinh thần) thì vẫn chưa bao giờ hoàn thiện, dù mỗi thời đại đi qua đều có thêm một nét vẽ mới, để có thể tiệm cận nét vẽ sau cùng. Nghĩa là, một cơ thể cân đối hài hòa, một thể chất mạnh mẽ, cường tráng, con người đã đạt được từ lâu. Nhưng sự phát triển lành mạnh, phong phú về tinh thần, sự thánh thiện trong tâm hồn thì cho đến nay chưa thể gọi là hoàn mỹ (NBL nhấn mạnh). Kể từ khi thoát ra sự “phong tỏa” của thế giới thần linh, con người trở thành trung tâm của cái đẹp. Thị hiếu thẩm mỹ lành mạnh bao giờ cũng đề cao vẻ đẹp bên ngoài hòa kết với vẻ đẹp bên trong. Ngay cả ý niệm về “thần sắc đẹp” cũng không phá vỡ sự hòa kết bất biến ấy. Tượng Venus - chân dung của vị thần tình yêu và sắc đẹp không chỉ đẹp ở hình thể bên ngoài mà còn giàu lòng thương yêu, luôn lấy tình thương và sự bao dung để cảm hóa.

Tượng thần Vệ nữ thành Milo (Venus de Milo)
Rõ là, hiểu đúng nghĩa, một người được coi là “Đẹp” tất phải “Sống đẹp”, phải “Chân” và “Thiện”, biết sẻ chia với cộng đồng, nhân văn - bác ái. Có một thực tế là, người ta có thể đo hình thể bằng thước tấc, rồi áp theo một quy chuẩn nào đó để cho rằng đẹp hay không đẹp. Nhưng vẻ đẹp nhân cách thì quả khó vô cùng. Và yếu tố thời gian là phải tính đến. Hoa hậu đăng quang trên sàn diễn chỉ mới là “tín hiệu” chứ chưa thực danh, bởi người đời còn phải dõi theo chiếc vương miệu kia liệu có trao nhầm người chưa bao giờ sống đẹp? Nếu cứ tiếp cận theo hướng này, thì hoa hậu ở xứ ta đa phần chỉ dừng lại một nửa, chưa thể tin cậy được. Chẳng hạn, sau đăng quang mà không đóng góp được gì đáng kể cho cộng đồng, thậm chí còn gây tai tiếng thì hoa hậu phỏng có ích gì? Mở rộng một chút, khi người xưa phán quyết: “Cái nết đánh chết cái đẹp” cũng có lí của họ. “Nết” thuộc về phẩm hạnh (tính nết), gắn với lối sống, cách sống, thói quen hành xử nằm trong một khung chuẩn mực nào đó được coi là “Đẹp” (điều ăn nết ở). Tóm lại, cái bền vững của “Người đẹp” chính là ở “Sống đẹp”. Phương diện thứ hai thuộc về bản thể; tuyệt nhiên không đóng vai, cũng không trang điểm được.
Lại một mùa Xuân nữa đã về, cây đâm chồi nảy lộc, người sum vầy, hạnh phúc. Nhưng đâu đây, xung quanh ta, vì lẽ này lẽ khác vẫn không ít những cảnh đời bất hạnh, khổ đau. Chắc rằng sẽ có muôn vàn nghĩa cử đẹp, hành vi đẹp đến sẻ chia với họ.
Nguồn CA TP.HCM: http://congan.com.vn/van-hoa-giai-tri/mua-xuan-luan-ve-cai-dep_189150.html











