'Mùa xuân' mới của Truyện Kiều
Nhân 260 năm ngày sinh đại thi hào Nguyễn Du, thời gian gần đây, 'Truyện Kiều' lại trở thành tâm điểm của giới xuất bản khi xuất hiện dồn dập nhiều ấn bản và gợi mở những cách tiếp cận khác nhau. Hiện tượng này không chỉ cho thấy sức sống bền bỉ của một kiệt tác văn chương, mà còn gợi ra những câu hỏi lớn về cách độc giả hôm nay đọc, hiểu và đối thoại với tuyệt tác này suốt hai thế kỷ.
Truyện Kiều: từ dị bản đến trực giác thẩm mỹ của người đọc hôm nay
Nhận định về sự “tấp nập” của thị trường xuất bản, nhà nghiên cứu Nhật Chiêu bày tỏ chưa có năm nào ông vui như mùa xuân này vì lượng sách Kiều xuất hiện dày đặc. Nhà nghiên cứu ví von: “Sách Kiều bay đến chỗ tôi như bươm bướm vậy”. (*)
Ông chỉ ra có nhiều ấn bản độc giả có thể tiếp cận, chẳng hạn có Truyện Kiều bản Tiên Điền do Hội đồng gia tộc họ Nguyễn chủ trì xuất bản, có Truyện Kiều Hội bản, có Truyện Kiều bản Nguyễn Văn Vĩnh dịch, kết hợp với tranh chưa từng công bố của Nguyễn Tư Nghiêm, cũng có bản gốc Kim Vân Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân…
Điều này cho thấy Truyện Kiều và Nguyễn Du vẫn luôn sống mãi trong tâm hồn người Việt. Vì lẽ đó, tác giả Ba ngàn thế giới thơm tự trào vị đại văn hào có vẻ hơi “lo xa” và “nhạy cảm nghệ sĩ” quá, bởi câu thơ: “Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa, Người đời ai khóc Tố Như chăng?” đã có câu trả lời.

Nhà nghiên cứu Nhật Chiêu cho biết để hiểu Truyện Kiều cần có trực giác nghệ thuật và vốn kiến thức phong phú.
Với việc có nhiều phiên bản như đã nói trên, nhà nghiên cứu Nhật Chiêu cũng chỉ ra tính chất đặc biệt của Truyện Kiều đó là có nhiều dị bản. Ông nói: “Mỗi bản lại có những chỗ khác biệt, không dám nói bản nào hay hơn, bản nào kém hơn, mà chỉ có thể nói là khác nhau. Nhưng cái khác nhau đó lại thú vị như là giống nhau vậy”.
Theo ông, điều này ít nhiều gây khó khăn cho độc giả, nhưng qua đó cũng tạo điều kiện để hậu thế nhìn về tài năng của Nguyễn Du. Đơn cử, ông dẫn chứng câu “Xập xòe én liệng lầu không/ Cỏ lan mặt đất, rêu phong dấu giày” cũng có một phiên bản khác, gần như tương tự nhưng được thay bằng “én lạnh lầu không”.
Phân tích kỹ hơn, nhà nghiên cứu cho biết nếu “én liệng” chỉ có nghĩa là chim đang bay, thì “én lạnh” lại giàu sắc thái, mô tả tâm cảnh đau đớn, rằng “én lạnh” vừa có nghĩa không có én, vừa có nghĩa nếu có đi nữa thì đó cũng là sự xuất hiện đơn chiếc, lẻ loi, không đáng nhắc đến. Do đó, với sự phi thường vốn có trong ngôn từ của Nguyễn Du, bản thân thiên về “én lạnh lầu không” hơn.
Từ đây ông rút ra kết luận để đọc Truyện Kiều thì mỗi độc giả phải có “trực giác về cảm thụ văn chương nghệ thuật” trước thực tế không có phiên bản nào là đúng nhất, do chính Nguyễn Du trực tiếp để lại cả.

Phiên bản Truyện Kiều qua bản dịch của Nguyễn Văn Vĩnh, minh họa của Nguyễn Tư Nghiêm. Ảnh: Nhã Nam.
Ngoài điều đó ra, độc giả cũng cần phải hiểu thấu đáo tiếng Việt, bởi với Nhật Chiêu, Nguyễn Du là cây viết “ma quái, ma mị, kỳ diệu” đến mức bất cứ điều gì mà ông để lại cũng có nhiều tầng nghĩa, không thể đánh giá chỉ qua bề mặt. Nhà nghiên cứu nhận định đại thi hào là “thiên tài tiếng Việt” khi khai thác những nét đẹp sâu kín và huyền diệu của ngôn ngữ này.
Lý giải điều này, ông cho rằng bởi Nguyễn Du may mắn sinh ra trong một gia đình quá giỏi tiếng Việt, có mẹ là nghệ nhân hát quan họ Bắc Ninh, vì vậy “những câu hát đẹp nhất, những câu thơ đẹp nhất đã thấm vào ông lúc còn nằm nôi”. Không dừng ở đó, cha và các anh em cũng giỏi thi phú, chữ nghĩa, từ đó mà nảy sinh sự nhạy bén về từ ngữ của Nguyễn Du.
Những tầng nghĩa sâu
Từ những điều nêu trên cho thấy, bên cạnh trực giác nghệ thuật thì cũng cần có một vốn kiến thức nhất định để nhận định và đánh giá Kiều. Chẳng hạn từng có tranh cãi về sự logic trong câu “Chiều xuân dễ khiến nét thu ngại ngùng”, khi nhiều người cho rằng đã là chiều xuân thì sao lại có mùa thu trong cùng một câu? Nhưng theo Nhật Chiêu, sở dĩ nhiều người ngộ nhận bởi họ chưa thật sự hiểu tiếng Việt.

Một trong những minh họa cho Truyện Kiều của họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm vừa được giới thiệu đến độc giả. Ảnh: Nhã Nam
Ông lý giải “chiều xuân” không chỉ có nghĩa thời gian, bối cảnh, mà xuân cũng có nghĩa là tình, ý chỉ tình yêu rạo rực, nảy nở trong lòng. Đó là cái vẻ, cái dáng và cái bóng của tình yêu. Trong khi “nét thu ngại ngùng” ý chỉ sự e thẹn của người phụ nữ, khi câu này diễn ra lúc Kim Trọng nhìn thấy Thúy Kiều. Như vậy “nét thu” tức là đôi mắt, chứ không dính dáng gì đến mùa trong năm cả.
Hay một câu khác: “Mặt tơ tưởng mặt lòng ngao ngán lòng” thì điệp từ “mặt” không phải ý nói là mặt của Thúy Kiều và Kim Trọng, mà là những gương mặt “trùng trùng duyên khởi, trùng trùng điệp điệp”. Đó là vô số tưởng tượng về khuôn mặt của nhau mà cả hai đã có sau 15 năm xa cách. Do đó nếu không có khả năng cảm thụ, nếu không hiểu xa hơn về mặt từ ngữ, thì không thể hiểu tường tận Kiều.
Ông cũng so sánh thủ pháp này với Marcel Proust trong bộ Đi tìm thời gian đã mất, khi một nhân vật là cậu bé luôn chờ mẹ mình đến hôn vào mỗi buổi tối. Nhà nghiên cứu Nhật Chiêu lý luận bởi nếu chỉ là một gương mặt cũ thì chẳng lý gì cậu thèm thuồng, khao khát đến độ mất ngủ, đến mức phải liều mình xuống lầu để nhận từ mẹ một nụ hôn dù biết cha mình sẽ rất giận dữ… Do đó cũng như câu thơ nói trên, đó là những gương mặt khác nhau dù chỉ của cùng một người.
Ngoài điều đó ra, nhà nghiên cứu cũng khẳng định Nguyễn Du là người đi trước thời đại, bởi ông dám viết những điều mà trong thời đại của mình chưa được phép. Đơn cử thời bấy giờ dù cho chồng có chết thì nếu tục huyền, người phụ nữ cũng sẽ bị đánh giá, trong khi Kiều lại “xăm xăm băng lối vườn khuya một mình”.
Nếu xét đến nhịp điệu và tác động của từ ngữ, thì câu này cho thấy một Kiều rất mạnh mẽ, khao khát yêu đương, bởi lẽ vườn ngày xưa thường được làm bằng dậu, do đó tách ra thì chuyện làm da rướm máu cũng rất có thể. Và rõ ràng điều này là “phản” Nho giáo vô cùng tận, nhưng đến bây giờ thì lại không xa lạ mấy. Đó cũng là lý do sau hơn hai thế kỷ thì tác phẩm này vẫn trường tồn.
Từ đây, nhà nghiên cứu Nhật Chiêu chỉ ra thêm cái hay của Nguyễn Du là tuy viết lại từ Kim Vân Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân, nhưng có nhiều chi tiết ông tự sáng tạo mà không có trong bản gốc. Chẳng hạn, Truyện Kiều của ta có triết lý về nghiệp – thiện – tâm, do đó nhiều khi còn nổi tiếng hơn phiên bản Trung Quốc.

Một trong những minh họa cho Truyện Kiều của họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm vừa được giới thiệu đến độc giả. Ảnh: Nhã Nam
Bên cạnh đó, Kiều của ta cũng là bản thành công bậc nhất, bởi cách xây dựng câu chuyện, nhân vật và triết lý nhân sinh. Ông dẫn ra ở Nhật cũng có Truyện Kiều mang tên Kim Ngư Truyện, nhưng nhìn chung không có nhiều giá trị. Chẳng hạn nếu Kiều của ta phải hy sinh vì gia đình, phải trải qua bao đau đớn trong cuộc đời thì bản của Nhật lại chỉ nói về một cô gái vì... ăn cá koi nhiều quá nên phải trả giá (!?).
Bên cạnh đó, Truyện Kiều của Nguyễn Du được xem là một trong những tác phẩm tiêu biểu của văn học Việt Nam, nổi bật ở nghệ thuật xây dựng cốt truyện, nhân vật cũng như chiều sâu triết lý nhân sinh. Nhà nghiên cứu Nhật Chiêu cho biết tại Nhật Bản, cũng xuất hiện những tác phẩm được xem là phỏng theo Truyện Kiều, như Kim Ngư Truyện. Tuy nhiên, các tác phẩm này chủ yếu mang tính cải biên, sáng tác lại theo bối cảnh và quan niệm văn hóa bản địa, nên khác biệt đáng kể so với nguyên tác. Nếu Truyện Kiều của Nguyễn Du khắc họa số phận con người gắn với chữ hiếu, chữ tình và những bi kịch xã hội, thì Kim Ngư Truyện thiên về yếu tố ngụ ngôn, với mô-típ nhân quả mang màu sắc dân gian Nhật Bản là một cô gái vì... ăn cá koi nhiều quá nên phải trả giá.
Từ những điều trên có thể thấy rằng “mùa xuân” mới của Truyện Kiều không chỉ nằm ở sự phong phú của các ấn bản, mà còn ở cách người đọc hôm nay tiếp cận và đối thoại với tác phẩm. Khi Kiều được đọc lại bằng trực giác thẩm mỹ, bằng hiểu biết ngôn ngữ và tư tưởng mới, thì kiệt tác này không khép lại trong quá khứ mà còn tiếp tục mở ra những tầng nghĩa xa.
Bài và ảnh: Minh Anh
______
(*) Sự kiện Ngày xuân kể chuyện Kiều diễn ra sáng 31.1 tại TP.HCM.
Nguồn Người Đô Thị: https://nguoidothi.net.vn/mua-xuan-moi-cua-truyen-kieu-51581.html












