Muốn đi xa, Việt Nam không thể chỉ cần công nghệ
PGS.TS Phan Thanh Bình cho rằng công nghệ giúp Việt Nam đi nhanh, nhưng để phát triển bền vững, đất nước cần đầu tư đồng thời cho khoa học cơ bản, con người và các giá trị xã hội.

Những năm gần đây, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ngày càng được đặt ở vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển của Việt Nam. Nghị quyết 57-NQ/TW, Nghị quyết 68-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW cùng cho thấy tri thức, công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao phải trở thành nền tảng của tăng trưởng và năng lực cạnh tranh quốc gia.
Theo PGS.TS Phan Thanh Bình, nguyên Giám đốc Đại học Quốc gia TP.HCM, đây là lựa chọn đúng trong bối cảnh không quốc gia nào có thể phát triển nhanh và bền vững nếu đứng ngoài cuộc đua khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Tín hiệu đáng mừng cho Việt Nam
Một trong những tín hiệu rõ nhất cho định hướng này là Nghị định 179/2026/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách học bổng cho người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược.
Từ tháng 9/2026, chính sách tập trung vào 15 nhóm ngành, trong đó có sinh học, khoa học vật chất, khoa học trái đất, toán học, thống kê, máy tính, công nghệ thông tin, kỹ thuật cơ khí, kỹ thuật điện - điện tử - viễn thông, kỹ thuật hóa học - vật liệu - luyện kim - môi trường, vật lý kỹ thuật và một số lĩnh vực kỹ thuật then chốt khác.
Ở bậc đại học, mức học bổng được quy định từ 3,7 triệu đến 5,5 triệu đồng mỗi tháng tùy chương trình; với bậc thạc sĩ là 5,5-7,4 triệu đồng và bậc tiến sĩ là 7,4-8,4 triệu đồng mỗi tháng.

PGS.TS Phan Thanh Bình. Ảnh: VNUHCM.
PGS Bình nhận định những chính sách như vậy có ý nghĩa không chỉ ở giá trị hỗ trợ vật chất, mà còn là cách Nhà nước phát tín hiệu về những lĩnh vực cần được ưu tiên đầu tư trong dài hạn.
Tuy nhiên, càng nói sâu về công nghệ, câu hỏi về nền tảng của công nghệ càng trở nên rõ ràng.
Muốn phát triển trí tuệ nhân tạo phải có toán học mạnh. Muốn làm chủ bán dẫn phải có vật lý, hóa học, vật liệu và kỹ thuật. Muốn tiến vào công nghệ lượng tử cũng cần một nền tảng khoa học cơ bản đủ sâu. Những công nghệ được xem là mới mẻ, hiện đại và có khả năng tạo ra bước nhảy về năng suất thực chất đều được xây dựng trên những tri thức đã được tích lũy qua nhiều thế hệ.
Vì thế, PGS.TS Phan Thanh Bình cho rằng không thể chỉ nhìn vào những ngành đang được gọi là "hot" mà bỏ qua những ngành nằm phía sau chúng.
Công nghệ có thể là phần nổi dễ nhìn thấy nhất của một hệ thống tri thức. Phía dưới nó là cả một nền móng gồm toán học, vật lý, hóa học, sinh học và nhiều ngành khoa học cơ bản khác. Nếu nền móng yếu, việc phát triển công nghệ dễ rơi vào tình trạng phụ thuộc vào tri thức, công nghệ và nguồn nhân lực từ bên ngoài.
"Muốn làm chủ công nghệ phải làm chủ tri thức nền tảng. Không có con đường tắt cho phát triển khoa học công nghệ", PGS Bình nhận định.
Nói thêm về Nghị định 179, nguyên Giám đốc Đại học Quốc gia TP.HCM nhận định đây là một tín hiệu tích cực, cho thấy sự quan tâm ngày càng rõ hơn đối với các ngành nền tảng và công nghệ chiến lược.
Tuy nhiên, phát triển đất nước không chỉ là câu chuyện của công nghệ, tăng trưởng hay năng suất lao động. Phía sau những con số ấy vẫn là con người. Phía sau những thành tựu công nghệ vẫn là xã hội. Và phía sau mọi chiến lược phát triển cuối cùng vẫn là câu hỏi "Chúng ta muốn xây dựng một đất nước như thế nào, một xã hội như thế nào và người Việt Nam như thế nào trong tương lai?".
Công nghệ là chưa đủ
Nhìn vào những thành tựu kinh tế - xã hội trong nhiều năm qua, PGS Bình cho rằng Việt Nam có nhiều lý do để lạc quan. Nhưng cùng lúc, đời sống xã hội vẫn đặt ra những vấn đề không thể giải quyết chỉ bằng tăng trưởng hay công nghệ.
Nếu khoa học tự nhiên giúp con người trả lời câu hỏi "có thể làm gì", khoa học xã hội và nhân văn góp phần trả lời những câu hỏi khác như "nên làm gì", "làm vì ai" và "làm như thế nào để xã hội phát triển tốt hơn".

Sinh viên ngành Khoa học máy tính tại trường Đại học Bách khoa TP.HCM. Ảnh: Phương Lâm.
Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo là ví dụ rõ nhất.
AI có thể xử lý lượng dữ liệu khổng lồ trong thời gian ngắn, hỗ trợ con người ra quyết định và thay thế một phần công việc vốn do con người thực hiện.
Nhưng khi một thuật toán có thể quyết định nội dung nào được nhìn thấy, hỗ trợ đánh giá một ứng viên, phân tích hành vi của một cá nhân hay tham gia vào những quyết định có ảnh hưởng đến cuộc sống con người, vấn đề không còn thuần túy là khả năng công nghệ.
Khi đó, xã hội sẽ xuất hiện những câu hỏi về đạo đức, quyền riêng tư, công bằng, trách nhiệm và giới hạn của công nghệ. Vì vậy, PGS Phan Thanh Bình tin rằng càng phát triển công nghệ, chúng ta càng cần hiểu con người.
Đây cũng là lý do chúng ta không nên hiểu "khoa học cơ bản" theo nghĩa chỉ bao gồm toán học, vật lý hay hóa học.
Khoa học cơ bản, theo cách nhìn rộng hơn, còn bao gồm những ngành nghiên cứu về con người, xã hội, văn hóa, lịch sử và các quá trình phát triển của một quốc gia. Nếu khoa học tự nhiên giúp mở rộng khả năng nhận thức và cải biến thế giới vật chất, khoa học xã hội và nhân văn giúp con người hiểu chính xã hội mà mình đang xây dựng.
Trong bối cảnh đó, việc đầu tư cho khoa học xã hội và nhân văn không phải là đi ngược dòng công nghệ. Ngược lại, đây là điều kiện để công nghệ phát triển theo hướng phục vụ con người.
Những định hướng lớn về khoa học công nghệ và giáo dục hiện nay cũng cho thấy yêu cầu phát triển nguồn nhân lực không thể chỉ dừng ở kỹ năng chuyên môn. Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết 71-NQ/TW đồng thời nhấn mạnh giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống và kỹ năng sống cho học sinh, sinh viên.
Theo PGS Bình, để khoa học xã hội và nhân văn thực sự đóng góp cho sự phát triển quốc gia, trước hết cần xây dựng được những trung tâm nghiên cứu đủ mạnh. Các đại học nghiên cứu và viện nghiên cứu phải trở thành nơi sản sinh tri thức mới, đào tạo đội ngũ chuyên gia và tham gia giải quyết những vấn đề thực tiễn của đất nước.
Điều này cũng đòi hỏi chính sách phát triển đội ngũ nghiên cứu, tạo môi trường để các nhà khoa học xã hội và nhân văn có thể theo đuổi những vấn đề dài hạn, thay vì chỉ tập trung vào những nghiên cứu có kết quả nhanh hoặc dễ lượng hóa.
Nếu khoa học công nghệ giúp một quốc gia tạo ra năng lực mới, khoa học xã hội và nhân văn giúp quốc gia hiểu mình đang thay đổi như thế nào và cần đi về đâu.
“Muốn đất nước đi nhanh phải đầu tư cho công nghệ; muốn đi xa phải đầu tư cho khoa học cơ bản. Nhưng muốn vừa đi nhanh, vừa đi xa và phát triển bền vững, Việt Nam phải phát triển đầy đủ cả hai trụ cột của khoa học cơ bản là khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, nhân văn. Sức mạnh của một quốc gia cuối cùng không chỉ nằm ở những công nghệ làm ra, mà còn ở chất lượng con người, chất lượng xã hội và những giá trị mà quốc gia đó kiến tạo, gìn giữ", PGS.TS Phan Thanh Bình nhấn mạnh.

