Mỹ có đang cạn kiệt vũ khí sau chiến dịch quân sự tại Trung Đông?

Sau gần 40 ngày tiến hành các hoạt động quân sự cường độ cao tại Iran, Mỹ đã tiêu hao một lượng lớn tên lửa và đạn dược hiện đại. Điều này làm dấy lên tranh luận về khả năng bổ sung kho dự trữ của Washington trong bối cảnh nước này vẫn phải duy trì cam kết an ninh tại nhiều khu vực, từ châu Âu đến Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương.

Ảnh minh họa: BBC/Getty Images

Ảnh minh họa: BBC/Getty Images

Khi Tổng thống Mỹ Donald Trump xuất hiện tại Hội nghị Thượng đỉnh Quốc phòng và Đổi mới Pennsylvania hồi đầu tháng này, thông điệp chính ông đưa ra là Washington cần đẩy nhanh tốc độ sản xuất vũ khí.

“Chúng ta có vũ khí chất lượng tốt nhất thế giới. Nhưng chúng ta cần nhanh hơn một chút”, ông Trump nói trước lãnh đạo các tập đoàn quốc phòng hàng đầu của Mỹ tại Đại học Chiến tranh Lục quân Mỹ.

Chính quyền Tổng thống Trump coi việc mở rộng năng lực sản xuất quốc phòng là một phần trong chiến lược củng cố sức mạnh quân sự và xây dựng “kho vũ khí của tự do”. Tuy nhiên, phía sau lời kêu gọi tăng tốc sản xuất là thực tế Mỹ vừa trải qua một chiến dịch quân sự tiêu hao lớn tại Iran, trong đó nhiều loại vũ khí tiên tiến và đắt đỏ đã được sử dụng với cường độ cao.

Theo Chính phủ Mỹ, cuộc xung đột này tiêu tốn khoảng 37,5 tỷ USD, phần lớn dành cho đạn dược. Khi lệnh ngừng bắn có hiệu lực ngày 8/4, Mỹ cho biết đã tấn công hơn 13.000 mục tiêu tại Iran và đánh chặn hơn 1.700 tên lửa đạn đạo cùng máy bay không người lái (UAV) của Tehran.

Việc Washington tuần này tạm dừng các cuộc tấn công nhằm mở đường cho đàm phán cũng làm xuất hiện câu hỏi: liệu Mỹ có đang phải cân nhắc hạn chế hoạt động quân sự vì áp lực từ kho vũ khí?

Tổng thống Trump bác bỏ lo ngại này, khẳng định Mỹ vẫn sở hữu lượng đạn dược lớn nhất thế giới và “nhiều hơn rất nhiều so với nhu cầu”.

Tuy nhiên, những tranh luận về năng lực dự trữ vũ khí của Mỹ đang trở nên gay gắt hơn trong nội bộ chính quyền. Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth trước đó từng phủ nhận tình trạng thiếu hụt, nhưng gần đây cho biết Lầu Năm Góc cần thêm 87 tỷ USD để giải quyết các “thiếu hụt nghiêm trọng”, trong đó có trang thiết bị quân sự.

Những loại vũ khí nào bị ảnh hưởng?

Theo Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS), các loại vũ khí của Mỹ chịu áp lực lớn nhất sau chiến dịch tại Iran gồm tên lửa tấn công tầm xa và hệ thống phòng không đánh chặn.

Một trong những loại được sử dụng nhiều nhất là tên lửa hành trình Tomahawk, loại vũ khí có khả năng tấn công chính xác các mục tiêu quân sự kiên cố từ khoảng cách hơn 1.600 km.

CSIS ước tính Mỹ đã phóng hơn 1.000 tên lửa Tomahawk trong cuộc chiến. Với chi phí khoảng 2,6 triệu USD mỗi quả, việc bổ sung số lượng đã sử dụng không thể thực hiện trong thời gian ngắn. Theo đánh giá của tổ chức này, kho Tomahawk của Mỹ có thể phải đến năm 2031 mới phục hồi về mức trước chiến tranh.

Kho dự trữ Tomahawk của Mỹ giảm từ hơn 3.000 quả trước chiến tranh xuống khoảng 2.000 quả sau chiến dịch tại Iran. Nguồn: Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS)

Kho dự trữ Tomahawk của Mỹ giảm từ hơn 3.000 quả trước chiến tranh xuống khoảng 2.000 quả sau chiến dịch tại Iran. Nguồn: Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS)

Một thách thức khác đến từ hệ thống phòng thủ tên lửa Patriot - một trong những vũ khí quan trọng nhất của Mỹ trong việc đối phó tên lửa và UAV.

CSIS ước tính Mỹ đã sử dụng khoảng 1.430 tên lửa đánh chặn Patriot trong chiến dịch tại Iran, trong khi kho dự trữ trước chiến tranh vào khoảng 2.330 quả. Mỗi tên lửa Patriot có giá khoảng 4 triệu USD, cao hơn nhiều lần so với các UAV giá rẻ mà chúng được sử dụng để tiêu diệt.

Ngoài Patriot, Mỹ còn triển khai hệ thống phòng thủ tầm cao giai đoạn cuối THAAD, một trong những hệ thống đánh chặn hiện đại nhất thế giới. Tuy nhiên, nguồn cung THAAD vốn đã hạn chế. CSIS cho rằng Mỹ có thể đã sử dụng từ 190 đến 290 tên lửa THAAD trong tổng số khoảng 360 quả trước chiến tranh.

Ông Mark Cancian, chuyên gia cấp cao tại CSIS, nhận định việc sản xuất lại những loại vũ khí này cần nhiều năm: “Phải mất từ 1 đến 5 năm để sản xuất một tên lửa, và không có cách đơn giản nào để rút ngắn quá trình đó”.

Lo ngại về khả năng ứng phó

Một trong những vấn đề khiến giới hoạch định chính sách Mỹ quan tâm là tác động của việc suy giảm kho vũ khí đối với chiến lược tại khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Bên cạnh đó, vấn đề kho vũ khí cũng đặt Mỹ trước bài toán khó trong việc hỗ trợ các đồng minh, đặc biệt là Ukraine.

Trong quá khứ, Washington từng hạn chế cung cấp một số loại vũ khí cho Kiev vì lo ngại ảnh hưởng đến kho dự trữ trong nước. Ukraine hiện vẫn kêu gọi Mỹ và các đồng minh cung cấp thêm hệ thống phòng không để đối phó với các đợt tấn công bằng tên lửa và UAV của Nga.

Dù vậy, một số chuyên gia cho rằng các cuộc xung đột gần đây cũng thúc đẩy Mỹ thay đổi cách tiếp cận trong sản xuất quốc phòng. Cựu quan chức Bộ Quốc phòng Mỹ Elaine McCusker cho rằng, Washington cần phát triển thêm các loại vũ khí giá rẻ, có thể sản xuất hàng loạt để bổ sung cho những hệ thống công nghệ cao nhưng đắt đỏ.

“Chúng ta không muốn dùng tên lửa đánh chặn trị giá 6 triệu USD để bắn hạ một UAV trị giá 1.000 USD”, bà nói.

Mỹ vẫn có ưu thế, nhưng cần tăng tốc sản xuất

Dù nhiều loại vũ khí bị tiêu hao đáng kể, giới chức Mỹ cho rằng nước này chưa đối mặt nguy cơ mất khả năng duy trì các mục tiêu quân sự.

Nhà Trắng khẳng định quân đội Mỹ vẫn có đủ lượng vũ khí cần thiết để thực hiện các mục tiêu chiến lược, đồng thời nhấn mạnh Tổng thống Trump đang thúc đẩy các nhà sản xuất quốc phòng tăng sản lượng.

Trong khi đó, các chuyên gia cho rằng vấn đề không nằm ở việc Mỹ sắp “hết vũ khí”, mà ở khoảng thời gian cần thiết để tái xây dựng kho dự trữ trong bối cảnh môi trường an ninh toàn cầu ngày càng phức tạp, khi mỗi tên lửa được sử dụng tại Iran, chuyển tới chiến trường Ukraine hay được giữ lại cho các kịch bản khác đều lấy đi một phần trong kho dự trữ vốn không thể bổ sung ngay lập tức.

Hồng Nhung

Nguồn Đại Biểu Nhân Dân: https://daibieunhandan.vn/my-co-dang-can-kiet-vu-khi-sau-chien-dich-quan-su-tai-trung-dong-10425215.html