Mỹ phẩm giả - Phải chuyển từ 'đi bắt' sang quản lý bằng dữ liệu

Muốn chặn cho mỹ phẩm giả hết đất sống, cơ quan chức năng cần chuyển từ tư duy “quản lý sản phẩm” sang quản lý cả chuỗi cung ứng, dữ liệu và hành vi kinh doanh trên môi trường số. Doanh nghiệp cần nêu cao trách nhiệm, đồng thời người tiêu dùng cần thay đổi cách tiêu thụ sản phẩm...

Một thị trường mỹ phẩm lành mạnh không thể được xây dựng bằng những đợt truy quét ngắn hạn. Nó cần một hệ thống quản lý liên tục, dựa trên dữ liệu, phân định rõ trách nhiệm và đặt người tiêu dùng ở vị trí được bảo vệ, chứ không phải để người tiêu dùng tự mình “điều tra” sản phẩm.

DỮ LIỆU CẦN ĐƯỢC LIÊN THÔNG

Có thể khẳng định, mỹ phẩm là một ngành hàng có tính đặc thù, trong khi Bộ Y tế chịu trách nhiệm về quản lý chuyên ngành thì lực lượng Quản lý thị trường kiểm tra lưu thông hàng hóa, Hải quan kiểm soát hàng hóa xuất nhập khẩu và Công an điều tra các vụ việc có dấu hiệu tội phạm, cơ quan Thuế quản lý nghĩa vụ thuế. Trong khi các sàn thương mại điện tử và mạng xã hội lại nắm một phần dữ liệu quan trọng về người bán, giao dịch và quảng cáo.

Từ những bất cập trên xảy ra một thực tế là cơ quan y tế có thể biết một sản phẩm đã được công bố hay không, nhưng chưa chắc biết sản phẩm đó đang được bán ở đâu với số lượng bao nhiêu. Lực lượng Quản lý thị trường có thể phát hiện một kho hàng, nhưng để lần ngược dòng tiền, nguồn hàng, người đứng sau tài khoản bán hàng lại cần dữ liệu từ các cơ quan khác. Hay cơ quan Công an có thể điều tra một đường dây buôn bán mỹ phẩm giả, nhưng việc phát hiện sớm những tài khoản, kho hàng, doanh nghiệp có dấu hiệu bất thường lại phụ thuộc rất lớn vào dữ liệu được chia sẻ.

Bởi thế, nếu những mảnh dữ liệu này không được kết nối thì mỗi cơ quan chỉ nhìn thấy một phần của thị trường. Do đó, có thể thấy chính sách quản lý về mỹ phẩm đang đứng trước yêu cầu thay đổi toàn diện.

Ông Tạ Mạnh Hùng - Phó Cục trưởng Cục quản lý Dược, Bộ Y tế nêu quan điểm: "Mỹ phẩm là ngành gắn liền với sức khỏe cộng đồng nên yêu cầu đặt ra là phải quản lý hiệu quả và chặt chẽ. Cần xây dựng hệ thống hậu kiểm hiệu quả hơn, định kỳ kiểm tra sản phẩm trên thị trường, nâng cao chế tài xử phạt đối với hành vi vi phạm trong công bố, quảng cáo, sản xuất mỹ phẩm, thiết lập cơ sở dữ liệu truy xuất nguồn gốc minh bạch, dễ dàng tra cứu".

Hiện, Bộ Y tế đang xây dựng dự thảo Nghị định mới về quản lý mỹ phẩm nhằm thay thế, hệ thống hóa các quy định hiện hành vốn nằm ở nhiều văn bản khác nhau. Có thể nói, đây là cơ hội để thiết kế lại phương thức quản lý mỹ phẩm theo hướng hiện đại hơn, thay vì chỉ sửa từng quy định nhỏ.

Và để siết chặt thị trường mỹ phẩm, theo quan điểm của chúng tôi một trong những nguyên tắc cần được thay đổi là cách hiểu về hậu kiểm. Bởi, hậu kiểm không nên chỉ có nghĩa là “sản phẩm đã bán ra rồi mới đi lấy mẫu kiểm nghiệm”.

Với mỹ phẩm, hậu kiểm cần được thực hiện trên toàn bộ vòng đời sản phẩm: từ hồ sơ công bố, nhà sản xuất, đơn vị chịu trách nhiệm đưa sản phẩm ra thị trường, nhà nhập khẩu, kho hàng, kênh phân phối, quảng cáo cho tới giao dịch cuối cùng với người tiêu dùng.

Thực tế, Bộ Y tế từng yêu cầu tăng cường kiểm tra việc lưu giữ hồ sơ thông tin sản phẩm mỹ phẩm, kiểm tra cơ sở sản xuất, nguồn gốc hàng hóa và đặc biệt chú trọng hoạt động kinh doanh trên sàn thương mại điện tử, mạng xã hội.

Nhưng muốn quản lý mỹ phẩm hiệu quả hơn, cơ quan quản lý phải trả lời được những câu hỏi rất cụ thể: Ai là người đưa sản phẩm ra thị trường?. Sản phẩm được sản xuất ở đâu?. Nguyên liệu từ đâu?. Được nhập khẩu qua cửa khẩu nào?. Được đưa vào kho nào?. Bán qua tài khoản nào?. Quảng cáo bởi ai?. Số lượng giao dịch bao nhiêu?. Tiền được chuyển tới tài khoản nào?. Nếu không có câu trả lời rõ ràng cho những câu hỏi trên thì rất khó quản lý mỹ phẩm giả.

Bên cạnh việc thay đổi về quản lý hậu kiểm, cơ quan quản lý cũng cần chuyển từ biện pháp đi tìm sản phẩm ngoài thị trường sang tìm dấu hiệu bất thường của sản phẩm mỹ phẩm. Thay đổi này là rất quan trọng, bởi trong mô hình quản lý truyền thống, lực lượng chức năng thường phải phát hiện địa điểm, kiểm tra và thu giữ hàng hóa.

Nhưng trên môi trường số, hàng hóa có thể biến mất rất nhanh. Một tài khoản bị khóa có thể lập tài khoản mới. Một gian hàng bị xử lý có thể chuyển sang nền tảng khác. Một kho bị phát hiện có thể nhanh chóng di chuyển sang địa điểm khác. Vì vậy, thay vì chỉ tìm sản phẩm mỹ phẩm giả, cơ quan chức năng cần xây dựng hệ thống phát hiện hành vi bất thường.

Chẳng hạn, một tài khoản bán hàng với giá thấp bất thường so với mặt bằng thị trường; liên tục thay đổi tên gian hàng; có lượng đơn hàng rất lớn nhưng thông tin pháp nhân không rõ ràng; bán nhiều sản phẩm thuộc các thương hiệu khác nhau nhưng không chứng minh được nguồn cung; sử dụng hàng loạt tài khoản để quảng cáo cùng một sản phẩm...

Tất cả những thông tin trên đều có thể trở thành dữ liệu đầu vào cho mô hình đánh giá rủi ro. Khi đó, việc kiểm tra sẽ không còn là “đi từng nơi để tìm”, mà là dùng dữ liệu để xác định nơi có khả năng vi phạm cao nhất.

Ngoài hai giải pháp trên, chúng ta cũng cần xây dựng một “hồ sơ điện tử” cho mỹ phẩm. Đây là giải pháp có tính nền tảng và dữ liệu cần được liên thông, thay vì mỗi cơ quan giữ một hệ thống riêng.

Khi đã xây dựng hồ sơ điện tử, mỗi sản phẩm sẽ có một mã định danh điện tử gắn với những thông tin cốt lõi như: doanh nghiệp chịu trách nhiệm, nhà sản xuất, nơi sản xuất, số tiếp nhận công bố, lô sản xuất, thời hạn sử dụng, nhà nhập khẩu và các thông tin liên quan.

Khi đã có đầy đủ thông tin, nếu một sản phẩm quảng cáo trên mạng không tồn tại trong cơ sở dữ liệu, hay sản phẩm có số công bố nhưng doanh nghiệp đứng tên đã ngừng hoạt động, hoặc cùng một mã sản phẩm được quảng cáo với những thông tin khác nhau ở hàng trăm tài khoản sẽ có những cảnh báo nên cơ quan Quản lý thị trường, Hải quan, Y tế, Công an và người tiêu dùng có thể xác minh sản phẩm bằng một hệ thống thống nhất.

SIẾT LIVESTREAM, TĂNG TRÁCH NHIỆM CÁC SÀN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

Bên cạnh những giải pháp về chính sách như đã nói ở trên thì sàn thương mại điện tử cũng không thể đứng ngoài cuộc. Bởi trong chuỗi quản lý mới, sàn thương mại điện tử phải là một tuyến phòng thủ quan trọng. Vì các sàn đang nắm lượng dữ liệu mà cơ quan quản lý khó có thể tự thu thập: thông tin người bán, lịch sử giao dịch, số lượng đơn hàng, giá bán, phản hồi của khách hàng, tỷ lệ hoàn trả, địa chỉ giao nhận và lịch sử vi phạm của gian hàng.

Vì vậy, trách nhiệm của sàn thương mại điện tử không nên dừng ở việc “gỡ sản phẩm khi được yêu cầu”, mà cần tăng cường cơ chế xác thực người bán, đặc biệt đối với những nhóm sản phẩm có ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe và an toàn người tiêu dùng như mỹ phẩm.

Sàn thương mại điện tử cũng cần có hệ thống phát hiện bất thường như: giá bán thấp bất thường, sản phẩm có nhiều phản ánh, người bán liên tục thay đổi thông tin, số lượng giao dịch tăng đột biến hoặc có dấu hiệu sử dụng nhiều tài khoản để kinh doanh cùng một nguồn hàng. Khi phát hiện dấu hiệu nghi vấn, nền tảng cần có cơ chế tạm thời hạn chế giao dịch, lưu giữ dữ liệu và phối hợp với cơ quan chức năng theo quy định.

Do vậy, điểm mấu chốt đối với các sàn thương mại điện tử là phải chuyển từ “gỡ bỏ” sang “ngăn chặn và truy vết”, vì một gian hàng bị khóa nhưng người đứng sau vẫn có thể mở gian hàng khác thì vấn đề chưa được giải quyết.

Như chúng ta đều biết, livestream hiện đang trở thành một trong những phương thức bán mỹ phẩm phổ biến nhất. Tuy nhiên, đây cũng là môi trường dễ phát sinh quảng cáo sai sự thật.

Người bán có thể đưa ra hàng loạt thông tin về nguồn gốc, công dụng, giá bán trong thời gian rất ngắn. Người tiêu dùng lại chịu tác động bởi tâm lý “mua ngay”, “giá sốc”, “chỉ còn vài sản phẩm”. Do đó, các nền tảng cần có cơ chế lưu trữ dữ liệu livestream trong thời gian phù hợp để phục vụ việc xác minh khi có dấu hiệu vi phạm.

Đồng thời, cần tăng trách nhiệm đối với người có ảnh hưởng, người nổi tiếng khi tham gia quảng cáo mỹ phẩm. Việc giới thiệu sản phẩm không thể chỉ dựa vào sức ảnh hưởng của người quảng bá mà phải dựa trên thông tin sản phẩm được xác thực.

DOANH NGHIỆP PHẢI LÀ TUYẾN PHÒNG THỦ ĐẦU TIÊN

Nếu Nhà nước là người thiết lập luật chơi và các nền tảng là nơi diễn ra giao dịch thì doanh nghiệp phải là tuyến phòng thủ đầu tiên về chất lượng và nguồn gốc sản phẩm.

Doanh nghiệp khi đưa mỹ phẩm ra thị trường phải kiểm soát chặt nhà sản xuất, nhà nhập khẩu, nhà phân phối và đại lý. Không thể chỉ có hồ sơ hợp lệ trên giấy nhưng không kiểm soát được sản phẩm thực tế đang lưu thông ở đâu.

Một doanh nghiệp làm ăn nghiêm túc cần xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc, quản lý lô hàng và kiểm soát mạng lưới phân phối. Khi phát hiện sản phẩm bị làm giả thương hiệu, doanh nghiệp cũng cần chủ động thông báo và phối hợp với cơ quan chức năng để xử lý.

Đây là điểm cần thay đổi trong nhận thức - chống hàng giả không chỉ là trách nhiệm của lực lượng quản lý thị trường. Doanh nghiệp chính là chủ thể có lợi ích trực tiếp và khả năng lớn nhất trong việc bảo vệ thương hiệu của mình.

Đối với các thương hiệu lớn, cần đầu tư công nghệ xác thực, mã định danh sản phẩm, hệ thống truy xuất và cảnh báo hàng giả. Tuy nhiên, công nghệ chỉ có ý nghĩa khi dữ liệu phía sau được quản lý chặt chẽ.

Đối với người tiêu dùng họ cũng cần có trách nhiệm, nhưng không thể đẩy toàn bộ trách nhiệm sang phía họ.

Trong thực tế, một người mua hàng bình thường rất khó phân biệt mỹ phẩm thật – giả chỉ bằng bao bì. Họ cũng khó xác minh một sản phẩm có thực sự được nhập khẩu hay một số công bố có hợp lệ hay không. Do đó, Nhà nước và doanh nghiệp cần cung cấp công cụ để người tiêu dùng tự kiểm tra dễ dàng hơn.

Đặc biệt, người tiêu dùng cũng cần hình thành thói quen không mua sản phẩm chỉ vì giá rẻ hoặc lời quảng cáo hấp dẫn. Những dấu hiệu như giá thấp bất thường, không có thông tin doanh nghiệp, không có hóa đơn, người bán né tránh câu hỏi về nguồn gốc hoặc quảng cáo công dụng quá mức đều phải được coi là cảnh báo.

Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng người tiêu dùng chỉ là tuyến phòng vệ cuối cùng, không thể trở thành người chịu trách nhiệm chính cho việc kiểm soát thị trường.

Có thể kết luận rằng chỉ khi sàn thương mại điện tử có trách nhiệm, doanh nghiệp chủ động bảo vệ chuỗi cung ứng, cơ quan quản lý sử dụng dữ liệu để kiểm soát rủi ro và người tiêu dùng được trao công cụ xác thực, cuộc chiến chống mỹ phẩm giả mới có thể chuyển từ thế bị động sang chủ động. Đó cũng là cách để quản lý thị trường không chạy theo hàng giả, mà khiến hàng giả ngày càng khó có đất sống.

Mới đây, trả lời truyền thông, ông Mai Mạnh Toàn - Phó Giám đốc Sở Công thương tỉnh Đắk Lắk cho biết, mỹ phẩm và thực phẩm chức năng trôi nổi xuất hiện ngày càng nhiều, nhưng việc xử lý vẫn còn vướng mắc. Khó khăn lớn nhất hiện nay là khâu kiểm nghiệm. Sau khi tạm giữ hàng phải gửi mẫu đi giám định tại các đơn vị chuyên môn. Tuy nhiên, chi phí kiểm nghiệm rất cao, thậm chí cao hơn nhiều lần mức phạt hành chính. Có trường hợp chi phí kiểm nghiệm lên đến 100 triệu đồng, trong khi mức xử phạt hành chính chỉ 5-7 triệu đồng hoặc vài chục triệu đồng. Nếu muốn xử lý tận gốc vấn nạn hàng trôi nổi, kém chất lượng thì cần đơn giản hóa thủ tục kiểm nghiệm, tạo điều kiện cho lực lượng chức năng có thể xử lý kiên quyết và hiệu quả hơn.

Đình Hoà

Nguồn Thương Gia: https://thuonggiaonline.vn/my-pham-gia-phai-chuyen-tu-di-bat-sang-quan-ly-bang-du-lieu-post572319.html