Năm 2026 đặt mục tiêu xuất khẩu nông lâm thủy sản trên 73 tỷ đô
Năm 2026 ngành Nông nghiệp và Môi trường (NNMT) phấn đấu tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản đạt 73 - 74 tỷ USD; trong đó, nhóm hàng nông sản khoảng 40 tỷ USD (tăng 7,2%), các mặt hàng thủy sản khoảng 12 tỷ USD (tăng 7,6%), lâm sản và đồ gỗ khoảng 18,8 tỷ USD (tăng 3,6%).
Xuất khẩu nông lâm thủy sản đạt hơn 70 tỷ đô
Nhìn lại năm 2025, Thứ trưởng Bộ NNMT Phùng Đức Tiến cho biết, năm 2025 tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Ở trong nước, thiên tai, thời tiết cực đoan diễn biến bất thường, gây thiệt hại lớn về người, tài sản và tình hình sản xuất nông nghiệp.
Trong bối cảnh đó, Bộ, ngành NNMT đã bám sát chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và yêu cầu của thực tiễn; chỉ đạo, điều hành“chủ động, quyết liệt, linh hoạt, đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm ngay từ những ngày đầu, tháng đầu của năm 2025”. Nhờ đó, sản xuất trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản duy trì ổn định và tiếp tục phát triển, bảo đảm nguồn cung lương thực, thực phẩm thiết yếu (lúa gạo, cây ăn quả, thịt hơi, sữa tươi, trứng gia cầm, thủy sản…) đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước, góp phần bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia và thúc đẩy xuất khẩu.
Về xuất khẩu tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản năm 2025 đạt 70,09 tỷ USD, tăng 12% so với năm trước. Trong đó, giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông sản đạt 37,25 tỷ USD, tăng 13,7%; giá trị xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi đạt 627,8 triệu USD, tăng 17,4%; giá trị xuất khẩu thủy sản đạt 11,32 tỷ USD, tăng 12,7%; giá trị xuất khẩu lâm sản đạt 18,5 tỷ USD, tăng 6,6%.
Về thị trường Trung Quốc với thị phần 22,3%, Hoa Kỳ với thị phần 20,6%, và Nhật Bản với thị phần 7,1%, là 3 thị trường xuất khẩu các mặt hàng nông lâm thủy sản lớn nhất của Việt Nam. So với năm trước, ước giá trị xuất khẩu nông lâm thủy sản của Việt Nam cả năm 2025 sang thị trường Trung Quốc tăng 15,9%, Hoa Kỳ tăng 5,4%, và Nhật Bản tăng 20,5%.
Về số một mặt hàng chính, xuất khẩu cà phê cả năm 2025 đạt 1,5 triệu tấn và 8,57 tỷ USD, tăng 13,1% về khối lượng và tăng 52,5% về giá trị so với năm trước; Cao su đạt 1,9 triệu tấn và 3,25 tỷ USD, giảm 7,4% về khối lượng và giảm 5% về giá trị so với năm trước; Rau quả cả năm 2025 đạt 8,56 tỷ USD, tăng 19,8% so với năm trước; Hạt điều 5,19 tỷ USD, tăng 5% về khối lượng và tăng 19,6% về giá trị so với năm trước.

Quang cảnh buổi họp báo. Ảnh: L.H
Xuất khẩu hàng thủy sản cả năm 2025 đạt 11,32 tỷ USD, tăng 12,7% so với năm trước. Trung Quốc, Hoa Kỳ và Nhật Bản là 3 thị trường tiêu thụ hàng thủy sản lớn nhất của Việt Nam, chiếm thị phần lần lượt là 20,1%, 17,3% và 15,1%. Gía trị xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ cả năm 2025 đạt 17,32 tỷ USD, tăng 6,4% so với năm trước. Hoa Kỳ là thị trường tiêu thụ gỗ và sản phẩm gỗ lớn nhất của Việt Nam, chiếm thị phần 55,5%. Nhật Bản và Trung Quốc là hai thị trường lớn tiếp theo với thị phần tương ứng là 12,6% và 11,7%.
Đẩy mạnh chế biến sâu
Về việc triển khai nhiệm vụ năm 2026, Thứ trưởng Phùng Đức Tiến cho hay, đây là năm sẽ tiếp tục có nhiều khó khăn, thách thức, nhất là tác động của biến đổi khí hậu; suy giảm tài nguyên, ô nhiễm môi trường và suy thoái đa dạng sinh học, ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh lương thực và sinh kế người dân. Trong bối cảnh yêu cầu quản lý ngày càng toàn diện, việc thực hiện các cam kết quốc tế về giảm phát thải, tăng trưởng xanh, bảo tồn thiên nhiên và chuyển đổi mô hình nông nghiệp phát thải thấp đặt ra áp lực lớn về nguồn lực và năng lực quản lý.
Trước yêu cầu đó, năm 2026, Bộ NNMT đặt mục tiêu tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, nâng cao khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu; phát huy hiệu quả nguồn lực đất đai, nước, rừng và đa dạng sinh học phục vụ phát triển nông nghiệp bền vững và kinh tế - xã hội đất nước.

Thứ trưởng Bộ NNMT Phùng Đức Tiến cho biết, năm 2026 ngành NNMT phấn đấu tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản đạt 73 - 74 tỷ USD. Ảnh: L.H
Toàn ngành phấn đấu tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản đạt 73 - 74 tỷ USD; trong đó, nhóm hàng nông sản khoảng 40 tỷ USD (tăng 7,2%), các mặt hàng thủy sản khoảng 12 tỷ USD (tăng 7,6%), lâm sản và đồ gỗ khoảng 18,8 tỷ USD (tăng 3,6%).
Để tạo bứt phá về giá trị, Bộ tập trung nhóm giải pháp theo chuỗi “vùng nguyên liệu - tiêu chuẩn - chế biến - logistics - thị trường”. Trên tinh thần đó, Bộ tập trung vào các nhóm giải pháp lớn, tạo bứt phá về giá trị. Cụ thể: Chuẩn hóa vùng nguyên liệu theo “đơn hàng thị trường”. Mở rộng mã số vùng trồng/ao nuôi, quản lý chất lượng đầu vào, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc; tổ chức sản xuất theo tiêu chuẩn (GAP, hữu cơ, bền vững), giảm rủi ro cảnh báo và trả hàng. Đẩy mạnh chế biến sâu và đa dạng hóa sản phẩm. Ưu tiên đầu tư công nghệ chế biến, bảo quản, đóng gói; phát triển sản phẩm tinh chế/tiện lợi/ready-to-eat; tận dụng phụ phẩm để tạo chuỗi giá trị mới (thức ăn, vật liệu sinh học, chiết xuất…).
Giảm “chi phí logistics” để tăng biên giá trị. Phát triển kho lạnh, chuỗi lạnh, trung tâm logistics vùng; tối ưu vận tải, cửa khẩu/cảng; chuẩn hóa quy trình số để rút ngắn thời gian thông quan và giảm chi phí tuân thủ.
Nâng cấp năng lực tiếp cận thị trường và thương hiệu quốc gia. Đẩy mạnh đàm phán mở cửa thị trường, xử lý rào cản SPS/TBT; xây dựng thương hiệu ngành hàng, chỉ dẫn địa lý, marketing theo phân khúc; chuyển mạnh từ bán “nguyên liệu” sang bán “sản phẩm có câu chuyện, có chuẩn”.
Chuyển đổi xanh để vào phân khúc giá cao. Đo lường/giảm dấu chân carbon, chứng nhận bền vững; thúc đẩy mô hình kinh tế tuần hoàn và sản xuất phát thải thấp-đây là “giấy thông hành” vào các thị trường, chuỗi bán lẻ cao cấp.
Tăng năng lực tài chính và quản trị rủi ro. Phát triển bảo hiểm nông nghiệp, công cụ phòng ngừa rủi ro giá/đầu vào; dự báo thị trường và cảnh báo sớm rào cản kỹ thuật để doanh nghiệp chủ động.











