Năm bát hương lạnh khói và trái tim của một người đàn ông

Ánh mắt sợ hãi của đứa trẻ đứng bên năm bát hương lạnh khói trong căn nhà trống đã 'ghì' cuộc đời Lê Bá Lương suốt gần 30 năm qua. Từ một giáo viên dạy Hóa cấp 3 rẽ ngang sang sứ mệnh làm chú, làm cha của hàng trăm đứa trẻ mồ côi.

Năm bát hương lạnh khói và trái tim của một người đàn ông

Ánh mắt sợ hãi của đứa trẻ đứng bên năm bát hương lạnh khói trong căn nhà trống đã "ghì" cuộc đời ông Lê Bá Lương suốt gần 30 năm qua. Từ một giáo viên dạy Hóa cấp 3 rẽ ngang sang sứ mệnh làm chú, làm cha của hàng trăm đứa trẻ mồ côi. Ông hiểu rằng đưa các em rời khỏi bi kịch đã khó, nhưng giữ lại niềm tin vào cuộc đời cho các em còn khó gấp bội phần.

Với nhiều đứa trẻ, ông Lương không chỉ là người quản lý mà là điểm tựa tinh thần, người cha để các em tin tưởng và chia sẻ.

Với nhiều đứa trẻ, ông Lương không chỉ là người quản lý mà là điểm tựa tinh thần, người cha để các em tin tưởng và chia sẻ.

Gần ba thập kỷ gắn bó với những phận đời rơi lại phía sau, Giám đốc Làng trẻ em SOS Nghệ An vẫn miệt mài trên hành trình chữa lành những tổn thương, để không một đứa trẻ nào phải thấy mình bị bỏ rơi thêm lần nữa.

Căn nhà chỉ còn lại 5 bát hương lạnh khói

Đó là căn nhà nhỏ, tối và gần như không còn đồ đạc. Giữa nền đất chỉ có một tấm ván cũ đặt trên mấy viên gạch, trên đó là năm bát hương lạnh khói. Lớp tro xám còn bám quanh miệng bát - dấu vết cuối cùng của một gia đình vừa rời khỏi cuộc đời này. Ở góc nhà, cậu bé đứng im, không khóc, không nói.

Những câu chuyện phía sau của mỗi đứa trẻ đến Làng SOS đều bắt đầu từ mất mát, nhưng tại đây các em được sống trong môi trường gia đình đầm ấm.

Những câu chuyện phía sau của mỗi đứa trẻ đến Làng SOS đều bắt đầu từ mất mát, nhưng tại đây các em được sống trong môi trường gia đình đầm ấm.

Ông Lương kể mình đã gặp rất nhiều đứa trẻ mồ côi, nhưng ánh mắt hôm đó vẫn khiến ông nghẹn lại. Trong vài giây ngắn ngủi, ông tự hỏi câu quen thuộc: "Nếu không có Làng trẻ em SOS, không biết tương lai các cháu sẽ như thế nào?". Và lần nào cũng vậy, Làng đã giang rộng vòng tay đón các con. Sau này, mỗi khi nhắc lại, ông nói chậm rãi: "Có những cảnh nhìn một lần là nhớ cả đời".

Suốt từng ấy năm, ông Lương đã đi qua rất nhiều căn nhà như thế - nơi tuổi thơ bị bỏ lại phía sau trong tang thương, nghèo đói và đứt gãy tình thân. Ít ai biết hành trình ấy bắt đầu từ một cơ duyên rất bất ngờ.

Năm 1997, ông Lương vào làm nhân viên giáo dục tại Làng trẻ em SOS Nghệ An và gắn bó đến tận hôm nay.

Năm 1997, ông Lương vào làm nhân viên giáo dục tại Làng trẻ em SOS Nghệ An và gắn bó đến tận hôm nay.

Những năm cuối thập niên 1990, khi đang là giáo viên hóa học, Bí thư Đoàn Trường THPT Thanh Chương 1, con đường tương lai của ông gần như đã định sẵn: học cao học rồi phấn đấu trở thành giảng viên Đại học. Nhưng một lần đi coi thi tại huyện Nghi Lộc (cũ) đã làm cuộc đời ông rẽ sang hướng khác. Hôm ấy, ông gặp lại người thầy cũ. Sau vài câu chuyện hỏi thăm, thầy bất ngờ nói: "Có về làm việc ở Làng trẻ em SOS không?. Tôi đăng ký cho cậu rồi đó". Ông nghĩ thầy nói vui. Nhưng ít ngày sau, thầy gọi điện giục làm hồ sơ, hướng dẫn thủ tục rồi gửi đi thật.

Khi nhận thông báo trúng tuyển, ông Lương đã suy nghĩ rất nhiều. Con đường giảng dạy ổn định phía trước bỗng khép lại, thay vào đó là một công việc ông chưa từng hình dung. Nhưng cuối cùng ông cũng chọn đi - vì tin rằng mình có thể làm được điều gì đó có ích hơn cho những đứa trẻ kém may mắn. Năm 1997, ông vào làm nhân viên giáo dục tại Làng trẻ em SOS Nghệ An và gắn bó đến tận hôm nay.

Từ nhỏ, ông đã quen nhìn thấy những đứa trẻ thiếu ăn, thiếu mặc trong xóm nghèo. Có đứa đi học chân đất, có đứa bỏ học sớm đi làm thuê. Những hình ảnh ấy theo ông rất lâu. Vì thế, khi có cơ hội làm việc tại Làng trẻ em SOS Nghệ An, ông xem đó như một cơ duyên hơn là lựa chọn nghề nghiệp đơn thuần.

Khi có cơ hội làm việc tại Làng trẻ em SOS Nghệ An, ông xem đó như một cơ duyên hơn là lựa chọn nghề nghiệp đơn thuần.

Ông Lương tổ chức buổi hợp với các mẹ trong làng về các vấn đề liên quan đến trẻ.

Ông Lương tổ chức buổi hợp với các mẹ trong làng về các vấn đề liên quan đến trẻ.

Những ngày đầu khiến "thầy Lương choáng". Các con ở đây không giống như các bạn học sinh cấp 3 mà thầy đang dạy. Các em đủ lứa tuổi, hoàn cảnh khác nhau mang theo những tổn thương sâu sắc: mất cha mẹ, bị bỏ rơi, từng sống trong nghèo đói, bạo lực, thiếu tình thương... Có em ăn cơm rất nhanh, tay giữ chặt bát như sợ bị lấy mất; có em giấu bánh vào túi áo; có em im lặng ít nói; có em nổi nóng, bỏ đi... Khi ấy ông mới hiểu một điều quan trọng: đưa trẻ về Làng chưa phải là xong. Khó nhất là giữ các em ở lại với cuộc sống bình thường, phải cho các em một mái ấm gia đình một tình thương thật sự để các em tin rằng mình không bị bỏ rơi thêm lần nữa.

Giữ một đứa trẻ ở lại với cuộc đời

Điện thoại của ông nhiều khi reo lên lúc nửa đêm:"Anh ơi, cháu bỏ đi rồi…". Có hôm vừa chợp mắt sau một ngày làm việc mệt rã rời, nghe tin, ông lập tức bật dậy, cầm chìa khóa xe và đi. Những con phố khuya, quán internet còn sáng đèn, góc tối ven đường - nơi nào có thể, ông đều tìm. Có đêm gần 3 giờ sáng mới đưa được trẻ về Làng. Đó không chỉ là việc riêng của ông mà khi ấy còn là trách nhiệm chung của lãnh đạo, cán bộ, nhân viên cùng tham gia tìm kiếm, đưa các em trở lại mái ấm.

Ông Lương ngồi trò chuyện cùng trẻ ở làng.

Ông Lương ngồi trò chuyện cùng trẻ ở làng.

Về đến Làng, nhiều khi các mẹ ở Làng vẫn chờ. Cơm đã nguội nhưng vẫn để phần, nồi canh được hâm lại thêm lần nữa. Có đứa trẻ cúi đầu ăn, nước mắt rơi xuống bát cơm. Ông biết đó là lúc các em đang quay về.

Theo ông, nuôi trẻ mồ côi khó nhất không phải cho ăn, cho học mà là chữa lành tâm hồn. Nếu không giữ được niềm tin, các em rất dễ rơi tiếp. Sự kiên nhẫn ấy đã tạo nên những điều tưởng chừng không thể. Nhiều đứa trẻ từng bị coi là "cá biệt" nay đã trưởng thành, có công việc, có gia đình. Khi quay lại thăm, các em vẫn gọi ông là "bố".

Ông Lương dặn dò 2 trẻ của làng trở lại giảng đường sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán.

Ông Lương dặn dò 2 trẻ của làng trở lại giảng đường sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán.

Một chuyến đi ở huyện Thanh Chương (cũ) khiến ông nhớ rất lâu. Trước cổng trường, ông thấy một cô bé nhỏ thó đang bế em ngủ say. Em gửi em bé cho bà bán nước rồi chạy vào lớp khi trống trường vang lên. Cô bé mới 13 tuổi, phải nuôi em 14 tháng tuổi vì mẹ bị bệnh tâm thần, thường xuyên bỏ đi. Hai chị em sống trong căn nhà trên đồi, không điện, không người lớn. Hàng xóm kể nhiều đêm mưa gió chỉ thấy cô bé ôm em ngồi co ro trong góc nhà. Khi ông hỏi mong muốn, em nói rất nhỏ: "Cho cháu ở cùng với em". Câu nói khiến ông lặng đi. Quyết định đón cả hai gần như đến ngay lập tức.

Trong điện thoại của ông lưu giữ rất nhiều hình ảnh của các em đã trưởng thành - niềm vui lớn nhất sau hành trình nhiều năm đồng hành.

Trong điện thoại của ông lưu giữ rất nhiều hình ảnh của các em đã trưởng thành - niềm vui lớn nhất sau hành trình nhiều năm đồng hành.

Năm 2021, ông lại lên xã biên giới Mỹ Lý đón bốn anh em mồ côi cha mẹ. Con đường núi xa xôi, nhà cửa thưa thớt. Nhìn những đứa trẻ gầy gò, áo quần cũ sờn, ông lại tự hỏi câu quen thuộc: "Nếu không đón các cháu, chuyện gì sẽ xảy ra?". Và rồi ông lại đưa các em về. Giờ mỗi em có một hướng đi riêng: có em làm việc tại khu cảng biển miền Trung, có em về chăm sóc ông bà, có em tiếp tục học phổ thông. "Quan trọng là các em không còn một mình", ông nói.

Trong hàng trăm câu chuyện, ông nhớ một cậu bé người Mông sau khi mẹ mất, bố không còn bên cạnh, một mình ôm em gái yếu ớt mà không có tiền mua thuốc. Khi được hỏi ước mơ, em nói muốn làm bác sĩ để chữa bệnh miễn phí cho trẻ em nghèo trong bản. Tháng 10/2025 cậu đã hoàn thành ước mơ: tốt nghiệp Đại học Y Hà Nội. Nhưng điều khiến ông vui nhất không chỉ thành tích mà là các con đã tự tin hướng tới tương lai.

Ông Lương cùng các cán bộ của làng tổ chức sinh nhật cũng như chẵn tháng cho các "con".

Sau gần ba mươi năm, từ một giáo viên trẻ đến khi mái đầu đã bạc, ông Lê Bá Lương vẫn mải miết với những chuyến đi tìm lại tuổi thơ bị bỏ rơi. Trong phòng làm việc của ông, những bức ảnh tốt nghiệp, ảnh cưới của các con như một minh chứng cho sự hồi sinh từ những bi kịch.

Sau nhiều thế hệ trưởng thành, Làng đã chăm sóc 833 trẻ; trong đó 524 người đã lớn khôn, 282 người lập gia đình riêng, có cuộc sống ổn định. Nhiều em học lên cao, có người trở thành tiến sĩ, nghệ sĩ ưu tú, y bác sĩ; hàng trăm em tốt nghiệp đại học, cao đẳng, trung cấp nghề.

Tuy nhiên, niềm vui ấy hiện vẫn đang xen lẫn những nỗi lo đau đáu, khi nhu cầu về một mái ấm cho trẻ em mồ côi, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ngoài đời vẫn còn rất lớn. Ông Lương tâm sự, điều ông lo nhất không phải là áp lực công việc, mà là còn bao nhiêu đứa trẻ ngoài kia chưa có ai đưa về, bao nhiêu cuộc đời vẫn đang co ro trong bóng tối vì thiếu một điểm tựa. Nhìn vào bức ảnh đứa trẻ đứng bên năm bát hương năm nào nay đã có mái nhà riêng, ông nói khẽ: "Các con cần một mái ấm gia đình!".

Không để trẻ thiệt thòi thêm lần nữa

Sau khi Làng trẻ em SOS Nghệ An được chuyển giao về Sở Y tế quản lý, điều ngành y tế quan tâm nhất là cuộc sống của từng đứa trẻ đang được nuôi dưỡng tại đây. Ông Nguyễn Văn Nam - Phó Giám đốc Sở Y tế Nghệ An chia sẻ, phần lớn các cháu vào Làng đều đã trải qua mất mát rất lớn nên điều các em cần không chỉ là ăn no, mặc ấm mà còn là sự quan tâm, ổn định và cảm giác được yêu thương. Ngành y tế xác định phải chăm lo cho các cháu bằng cả trách nhiệm và tình cảm, tạo điều kiện để các em được học tập, định hướng nghề nghiệp và có tương lai.

Nơi những gia đình được tái sinh

Ông Lê Bá Lương, Giám đốc Làng trẻ em SOS Nghệ An cho biết, mô hình tại Làng được xây dựng như một gia đình thực sự: mỗi ngôi nhà có một người mẹ chăm sóc từ 6 đến 8 anh chị em cùng lớn lên dưới một mái ấm. Trẻ không chỉ được nuôi dưỡng mà còn được định hướng nghề nghiệp, rèn kỹ năng sống để tự tin bước vào đời.

Sau nhiều thế hệ trưởng thành, Làng đã chăm sóc 833 trẻ; trong đó 524 người đã lớn khôn, 282 người lập gia đình riêng, có cuộc sống ổn định. Nhiều em học lên cao, có người trở thành tiến sĩ, nghệ sĩ ưu tú, y bác sĩ; hàng trăm em tốt nghiệp đại học, cao đẳng, trung cấp nghề.

Điều đặc biệt, với nhiều người, Làng không chỉ là nơi đi qua tuổi thơ mà trở thành quê hương thứ hai. Khi trưởng thành, họ đưa vợ, chồng, con cái trở về thăm "mẹ", thăm anh chị em vào mỗi dịp lễ, Tết - như một cách tri ân nơi đã cho mình cơ hội được lớn lên bình thường như bao người khác.

Vũ Đồng

Nguồn SK&ĐS: https://suckhoedoisong.vn/nam-bat-huong-lanh-khoi-va-trai-tim-cua-mot-nguoi-dan-ong-169260226213004422.htm