Nam sinh đạt IELTS 8.0 chọn ngành Văn học để được 'sống là chính mình'

Dương Ngô Minh Đức gây ấn tượng khi trúng tuyển thẳng ngành Văn học (mã ngành QHX26), Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - ĐHQGHN. Bên cạnh giải Ba môn Ngữ văn tại Kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia, Đức đạt IELTS 8.0. Với nam sinh, ngoại ngữ không chỉ là một năng lực bổ trợ cho việc học Văn mà còn mở ra một không gian tri thức rộng hơn.

Những thành tích nổi bật:

- Huy chương Vàng, Bạc, Đồng trong các kì thi chọn HSG khu vực Duyên hải và Đồng bằng Bắc Bộ, Trại hè Hùng Vương.

- Là thí sinh đại diện trường THPT Chuyên Thái Nguyên tham dự chương trình Đường lên đỉnh Olympia năm thứ 25.

- Đoạt giải Nhất cuộc thi Thơ trẻ Online năm 2024 do Hội Văn học và nghệ thuật tỉnh Thái Nguyên tổ chức.

- Điểm thi THPT: Toán: 9,00 điểm, Ngữ văn: 9,00 điểm, Lịch sử: 9,25 điểm, Tiếng Anh: 8,25 điểm.

- Ở tổ hợp D14 (Ngữ văn: 9,00 điểm, Lịch sử: 9,25 điểm, Tiếng Anh quy đổi: 10 điểm, điểm cộng: 02 điểm).

- Ở tổ hợp D09 (Toán: 9,00 điểm; Lịch sử: 9,25 điểm; Tiếng Anh quy đổi: 10 điểm, điểm cộng: 02 điểm).

- Giải ba môn Ngữ Văn kỳ thi HSG Quốc gia.

- Đạt 8.0 Ielts.

“Văn học là nơi em có thể được sống là chính mình”

Với Dương Ngô Minh Đức, lựa chọn Văn học chưa bao giờ là câu hỏi có nên theo đuổi văn chương hay không. Điều khiến nam sinh trăn trở trong một thời gian dài chỉ là tìm được ngành học và môi trường đào tạo phù hợp nhất để tiếp tục nuôi dưỡng đam mê, đồng thời phát huy năng lực của bản thân.

“Đối với em, văn học từ trước đến nay là đam mê lớn nhất, là nơi mà em có thể tìm được cảm giác thuộc về, nơi em có thể được sống là chính mình, nhận diện bản thân thấu đáo hơn”, Đức chia sẻ.

Từng cân nhắc giữa ngành Sư phạm Ngữ văn của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và ngành Văn học của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đức dành thời gian tìm hiểu kỹ chương trình đào tạo, đồng thời tham khảo kinh nghiệm từ thầy cô và các anh chị khóa trước.

Sau nhiều lần cân nhắc, nam sinh quyết định lựa chọn ngành Văn học tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, bởi nhận thấy định hướng phát triển của bản thân phù hợp hơn với chương trình đào tạo tại đây.

Dương Ngô Minh Đức gây ấn tượng khi trúng tuyển thẳng ngành Văn học (mã ngành QHX26), Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn. Ảnh: NVCC

Dương Ngô Minh Đức gây ấn tượng khi trúng tuyển thẳng ngành Văn học (mã ngành QHX26), Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn. Ảnh: NVCC

Từ nhỏ, nam sinh đã thích đọc sách, nhưng khi bắt đầu học chuyên Văn, mục tiêu ban đầu chỉ đơn giản là học tập nghiêm túc, có hệ thống để chuẩn bị cho kỳ thi vào lớp chuyên. Ngay cả khi đã bước vào môi trường chuyên, Đức vẫn chưa thực sự nghĩ rằng Văn học sẽ trở thành đam mê mà mình muốn gắn bó lâu dài.

Chỉ đến khi dấn thân vào nhiều kỳ thi, đọc nhiều hơn, đồng thời được tiếp cận những tác phẩm và kiến thức lý luận văn học sâu hơn, Đức mới dần nhận ra mình đã dành cho văn chương một tình cảm đặc biệt. Càng học, càng đọc, nam sinh càng nhận thấy đây là lĩnh vực mang đến cho mình nhiều cảm hứng, nơi bản thân có năng lực và cũng có khát khao được cống hiến.

Bên cạnh những tác phẩm văn học đã đọc, tình yêu với môn Văn của Đức còn được bồi đắp qua sự đồng hành của gia đình và những người thầy, người cô. Sự truyền cảm hứng, động viên và khích lệ ấy trở thành một phần trong hành trình để nam sinh từng bước xác định văn chương không chỉ là môn học mình theo đuổi, mà còn là con đường mình muốn đi xa hơn.

Không phải hành trình nào cũng dễ dàng

Giải Ba môn Ngữ văn tại Kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia là một dấu mốc đáng nhớ với Dương Ngô Minh Đức. Tuy nhiên, để có được kết quả ấy, nam sinh đã phải đi qua một quãng thời gian không dễ dàng, khi thất bại từng khiến nam sinh hoài nghi về năng lực và thậm chí nghĩ đến việc từ bỏ con đường mình đang theo đuổi.

Minh Đức đạt Giải Ba môn Ngữ văn tại Kỳ thi chọn học sinh giỏi Quốc gia. Ảnh: NVCC

Minh Đức đạt Giải Ba môn Ngữ văn tại Kỳ thi chọn học sinh giỏi Quốc gia. Ảnh: NVCC

Đức hai lần tham dự Kỳ thi học sinh giỏi quốc gia và chỉ một lần đoạt giải. Ở lần đầu tiên, khi đang học lớp 11, nam sinh trở về mà không có giải thưởng. Trong lớp, những bạn cùng dự thi đều đạt giải, còn Đức là người duy nhất “tay trắng”.

Thất bại ấy khiến nam sinh rơi vào khủng hoảng. Đức bắt đầu nghi ngờ năng lực của chính mình, cho rằng bản thân chưa đủ giỏi và có lẽ không có khả năng đạt được thành tựu nào. Việc so sánh mình với những người bạn đạt giải càng khiến nam sinh thất vọng hơn.

Sau kỳ thi, Đức nhận ra mình còn nhiều giới hạn. Nam sinh thấy mình chưa đủ nỗ lực, nhưng điều đáng nói hơn là chưa biết cách để nỗ lực đúng hướng. Cả học kỳ II lớp 11, nam sinh rơi vào trạng thái “lửng lơ”, trong khi việc viết ngày càng trở nên rườm rà, khó hiểu. Có những lúc, Đức nghĩ tình hình của mình không thể cứu vãn, rằng có lẽ nên buông bỏ và tìm một con đường khác để bắt đầu lại từ con số không.

Nhưng cuối cùng, Đức không bỏ cuộc. Nam sinh chia sẻ rằng, không phải bởi bản thân chưa từng hoài nghi hay chưa từng mệt mỏi, mà bởi mục tiêu vẫn còn đó và chưa được chinh phục. Thay vì tiếp tục mắc kẹt trong thất bại, nam sinh bắt đầu nhìn lại quá trình đã qua, phân tích nguyên nhân khiến mình chưa đạt kết quả như mong muốn, từ đó thay đổi cách học và xây dựng một lộ trình ôn luyện khoa học, có hệ thống hơn.

Quan trọng hơn, Đức học cách tin tưởng vào bản thân, đồng thời chấp nhận rằng những điều không tốt đẹp hoàn toàn có thể tiếp tục xảy đến. Với nam sinh, điều cần làm sau một lần vấp ngã không phải là phủ nhận thất bại, mà là rút kinh nghiệm, tìm ra phương pháp phù hợp và tiếp tục bước đi.

Đến kỳ thi học sinh giỏi quốc gia tiếp theo, áp lực vẫn còn. Đức thừa nhận bản thân vẫn rất tâm lý, khiến chất lượng bài làm bị ảnh hưởng khá nhiều. Nhưng giải Ba cuối cùng đã phần nào chứng minh rằng những thay đổi trong cách học và phương pháp ôn luyện của nam sinh đã mang lại hiệu quả.

Vì thế, với Đức, giải thưởng ấy không đơn thuần là một thành tích. Đó còn là kết quả của một quá trình dám nhìn thẳng vào thất bại, nhận diện những giới hạn của bản thân và đủ kiên trì để thay đổi.

Học Văn không phải để nhớ nhiều, mà để hiểu sâu

Sau thất bại, Đức không chỉ học nhiều hơn mà còn học khác đi. Phương pháp của nam sinh được xây dựng theo một quá trình liên tục: mở rộng kiến văn thông qua việc đọc tác phẩm, sách, báo khoa học; hệ thống hóa những gì đã tiếp nhận; vận dụng vào bài viết; rồi từ chính quá trình ấy tiếp tục mở rộng những vùng kiến thức mới.

Bên cạnh gia đình, bạn bè thầy cô cũng luôn bên cạnh động viên Đức. Nam sinh là thí sinh đại diện trường THPT Chuyên Thái Nguyên tham dự chương trình Đường lên đỉnh Olympia năm thứ 25. Ảnh: NVCC

Bên cạnh gia đình, bạn bè thầy cô cũng luôn bên cạnh động viên Đức. Nam sinh là thí sinh đại diện trường THPT Chuyên Thái Nguyên tham dự chương trình Đường lên đỉnh Olympia năm thứ 25. Ảnh: NVCC

Dù tiếp cận một tác phẩm văn học hay một công trình chuyên khảo, nam sinh luôn đặt ra những câu hỏi rộng hơn: Tác phẩm ra đời trong bối cảnh nào? Nó phản ánh tư duy, phong cách và hiện thực xã hội của thời đại ấy ra sao? Nó chất vấn những giới hạn nào của thời đại và mở ra những khả thể gì để các thế hệ sau tiếp tục đối thoại? Những giới hạn ấy được các tác giả đi sau nhận diện, khắc phục và mở rộng như thế nào?

Bằng cách đặt tác phẩm vào một hệ thống mang tính lịch sử, Đức muốn hiểu văn học trong một bức tranh rộng hơn, thay vì chỉ tiếp nhận tác phẩm ở lớp nghĩa bề mặt. Với nam sinh, đó cũng là cách để tránh hiểu sai hoặc nhìn nhận một tác phẩm một cách nông cạn.

Nam sinh quan sát tư duy, văn phong và cấu trúc triển khai của các tác giả, từ đó tìm cách vận dụng vào bài viết của mình. Những câu văn hay, độc đáo được Đức ghi chép riêng vào sổ tay để có thể tham khảo khi cần. Qua quá trình ấy, nam sinh từng bước nhận diện những khuyết điểm và điểm thiếu khoa học trong lối viết của chính mình, từ đó tìm cách khắc phục và hoàn thiện.

Điều đáng chú ý là Đức không lựa chọn cách học đến khuya hay kéo dài thời gian học một cách cực đoan. Trong giai đoạn ôn đội tuyển, nam sinh thường dành buổi chiều để hệ thống kiến thức, bổ sung những phần còn yếu và tập viết dẫn chứng. Buổi tối, nam sinh lập dàn ý rồi nghỉ ngơi sớm.

Đức cho rằng học đến khuya không mang lại nhiều lợi ích, thậm chí có thể ảnh hưởng lâu dài đến sức khỏe và sự minh mẫn. Bởi vậy, thay vì kéo dài thời gian học, nam sinh tập trung xây dựng một phương pháp phù hợp với khả năng và trạng thái của bản thân.

IELTS 8.0 và cánh cửa mở rộng thế giới văn học

Bên cạnh giải Ba môn Ngữ văn tại Kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia, Đức đạt IELTS 8.0. Với nam sinh, ngoại ngữ không chỉ là một năng lực bổ trợ cho việc học Văn mà còn mở ra một không gian tri thức rộng hơn.

Đức dành khá nhiều thời gian đọc các bài báo khoa học, tác phẩm lý luận và văn học chưa được dịch, xuất bản bằng tiếng Việt. Việc tiếp cận những văn bản bằng tiếng Anh giúp nam sinh mở rộng quan niệm về văn học, đồng thời khiến gu thẩm mỹ có sự chuyển dịch.

Quan trọng hơn, Đức có thêm những cách đọc, cách hiểu và cách đánh giá tác phẩm theo hướng công tâm, khoa học hơn. Từ những văn bản tiếp cận được bằng tiếng Anh, nam sinh từng bước tìm hiểu các trào lưu lý thuyết và những hiện tượng văn học đang được nghiên cứu rộng rãi trong môi trường học thuật nước ngoài.

Những kiến thức ấy sau đó được Đức chọn lọc, học hỏi và vận dụng vào bài viết nhằm tăng hàm lượng thông tin cũng như tính học thuật.

Với nam sinh, học ngoại ngữ vì thế không chỉ đơn giản là biết thêm một ngôn ngữ. Đó còn là cách mở thêm những cánh cửa để tiếp cận với thế giới tri thức rộng lớn hơn, từ đó nhìn văn học bằng nhiều góc độ hơn.

Trúng tuyển thẳng ngành Văn học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đức bước vào giảng đường với định hướng tương đối rõ ràng: tiếp tục nghiên cứu văn học, đồng thời phát triển khả năng sáng tác.

Nam sinh mong muốn tiếp tục cải thiện năng lực, mở rộng chiều kích bản thân và khắc phục những giới hạn còn tồn tại. Đặc biệt, Đức muốn xây dựng một phương pháp tiếp cận và nghiên cứu tác phẩm giàu tính hàn lâm, khoa học hơn; đồng thời nâng cao chất lượng bài viết theo hướng giàu thông tin và học thuật.

Dù xác định nghiên cứu là định hướng chính, Đức không muốn bỏ qua khả năng sáng tác của mình. Nam sinh mong muốn phát triển song song hai năng lực, bởi theo nam sinh, chúng có thể bổ trợ cho nhau.

Nghiên cứu giúp Đức có thể viết những tác phẩm giàu tính gợi mở và trí tuệ hơn. Ngược lại, sáng tác giúp nam sinh thấu hiểu sâu hơn đời sống của một tác phẩm văn học, từ đó phục vụ tốt hơn cho quá trình nghiên cứu.

Phương Anh

Nguồn Đại Biểu Nhân Dân: https://daibieunhandan.vn/nam-sinh-dat-ielts-8-0-chon-nganh-van-hoc-de-duoc-song-la-chinh-minh-10428400.html