Nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế

Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng đặt ra mục tiêu, phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân giai đoạn 2026 - 2030 từ 10%/năm trở lên, đưa thu nhập bình quân đầu người chạm mốc 8.500 USD vào năm 2030. Tuy nhiên, để chuyển hóa khát vọng thành hiện thực, nền kinh tế phải đối mặt với những biến số ngoại biên cực kỳ phức tạp.

Nền kinh tế Việt Nam đang có sự thăng hoa ở cấp độ vĩ mô và sự thận trọng ở cấp độ vi mô

Nền kinh tế Việt Nam đang có sự thăng hoa ở cấp độ vĩ mô và sự thận trọng ở cấp độ vi mô

Lực cản vô hình nhưng mạnh mẽ

Sức nóng từ eo biển Hormuz tại Trung Đông đã ngay lập tức đẩy giá dầu liên tục biến động. Bên cạnh đó, làn sóng bảo hộ thương mại đang quay trở lại mạnh mẽ với 644 biện pháp bảo hộ được áp dụng trong chưa đầy một năm và chính sách thuế khắc nghiệt từ chính quyền Hoa Kỳ dưới thời Tổng thống Donald Trump, mọi biến động nhỏ từ các cường quốc đều có thể gây rung chấn trực tiếp đến quy mô xuất khẩu của hàng hóa Việt Nam.

Không những thế, nền kinh tế còn đối mặt với thách thức “già hóa” ngay từ bên trong. Với hơn 14,8 triệu người cao tuổi trên tổng dân số 102,3 triệu dân, Việt Nam đang dịch chuyển sang giai đoạn già hóa dân số nhanh chóng. Nếu không duy trì được tốc độ tăng trưởng bứt phá, chúng ta đứng trước nguy cơ hiện hữu “chưa giàu đã già”. Đây là một lực cản vô hình nhưng mạnh mẽ, trực tiếp bào mòn lợi thế nhân công rẻ và gây áp lực lên hệ thống an sinh xã hội.

Một đặc điểm đáng chú ý hiện nay là nền kinh tế Việt Nam dường như đang vận hành với hai nhịp độ trái ngược, đó là sự thăng hoa ở cấp độ vĩ mô và sự thận trọng ở cấp độ vi mô. Theo đó, tiếp nối đà tăng trưởng của năm trước, 2 tháng đầu năm 2026 sản xuất công nghiệp tăng 10,4%, xuất nhập khẩu vượt ngưỡng 155 tỷ USD (tăng hơn 22%). Thu ngân sách và giải ngân đầu tư công đều khởi sắc, tạo nền tảng vững chắc cho quỹ đạo tăng trưởng. Trái ngược với các chỉ số tổng thể, khu vực doanh nghiệp đang cho thấy sự hụt hơi khi số lượng doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường vẫn cao hơn số gia nhập; tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tăng 7,9% nhưng nếu loại trừ yếu tố giá, mức tăng thực chỉ còn khoảng 4,5%. Người tiêu dùng rõ ràng đang thận trọng hơn trong chi tiêu.

Điều này phản ánh tâm lý e dè khi niềm tin chưa đủ mạnh, dòng tiền có xu hướng tìm đến các tài sản an toàn thay vì đổ vào sản xuất hay tiêu dùng. Đây chính là “điểm nghẽn” khiến sức chống chịu của nền kinh tế chưa thực sự mạnh mẽ, một chuyên gia khẳng định.

Cơ chế đủ thoáng, tạo không gian sáng tạo

TS. Nguyễn Văn Điển, Trưởng khoa Kinh tế chính trị, Học viện Chính trị Khu vực II đánh giá, với các doanh nghiệp, quan trọng nhất hiện nay là cần có một môi trường kinh doanh thuận lợi, thông thoáng. Vì thế, sự sát cánh của nhà nước là động lực rất lớn, mang ý nghĩa rất quan trọng đối với các doanh nghiệp khi ngày càng có nhiều cú sốc từ bên ngoài. Đây là những “tấm giảm xóc” hiệu quả để tăng sức chống chịu cho nền kinh tế trong ngắn hạn.

Muốn tạo dựng nội lực, tự lực tự cường, quan trọng nhất là phải thay đổi thể chế, tạo ra một môi trường kinh doanh thân thiện, thủ tục hành chính đơn giản để các doanh nghiệp có đầy đủ không gian sáng tạo và phát huy tất cả năng lực của mình. Bên cạnh đó, cần phải đẩy mạnh giải ngân đầu tư công, coi đây là một trong những đòn bẩy tạo động lực lan tỏa mạnh mẽ nhất, đưa khu vực công nghiệp và xây dựng tăng trưởng mạnh. Cùng với đó, kích hoạt các sandbox thể chế về kinh tế số, kinh tế tuần hoàn, mở đường băng cho Việt Nam phát triển bền vững, TS. Nguyễn Văn Điển khuyến nghị.

Ở góc độ vĩ mô, ông Martin Sommer, đại diện Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cho rằng, Việt Nam cần tiếp tục ưu tiên điều hành chính sách tiền tệ theo hướng kiểm soát lạm phát và bảo đảm ổn định tài chính; chính sách tài khóa cần thận trọng, trung lập, tránh gây áp lực lên lạm phát và tỷ giá. Các biện pháp hỗ trợ nên linh hoạt, có lộ trình thu hẹp và chuyển dần sang mục tiêu cụ thể. Đầu tư công là động lực quan trọng cho tăng trưởng, song cần triển khai với tiến độ phù hợp để hạn chế áp lực lạm phát và các điểm nghẽn của nền kinh tế; đồng thời cần xây dựng chiến lược huy động vốn hợp lý và kiểm soát rủi ro khi huy động từ khu vực tư nhân, đặc biệt trong các dự án hợp tác công - tư. Cùng với đó, cần tăng cường các kịch bản dự phòng chính sách trước các cú sốc bên ngoài, cải thiện chất lượng và tính kịp thời của dữ liệu phục vụ điều hành, cũng như thúc đẩy phối hợp liên ngành.

TS. Nguyễn Văn Điển cho rằng, đây là thời điểm quan trọng để phát huy tối đa đổi mới sáng tạo. Đa dạng hóa nền kinh tế, giảm phụ thuộc vào một số ít ngành hoặc thị trường xuất khẩu chủ lực, đầu tư mạnh mẽ vào khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo là con đường duy nhất để nâng cao năng suất lao động, gia tăng giá trị nội địa và cải thiện năng lực cạnh tranh quốc gia trong dài hạn. Doanh nghiệp phải xây dựng lộ trình chuyển đổi số phù hợp, chủ động hơn trong công tác ứng phó; cùng với đó, tìm ra những thị trường mới, những dịch vụ, sản phẩm mới đáp ứng bối cảnh hiện nay.

Về vấn đề này, Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Quốc Phương nhấn mạnh, việc tăng cường hợp tác quốc tế và thúc đẩy các sáng kiến phát triển bền vững có ý nghĩa hết sức quan trọng. Việt Nam luôn coi trọng mở rộng quan hệ với các đối tác, đặc biệt trong các lĩnh vực tài chính, đầu tư, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Trong thời gian tới, Bộ sẽ tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách tài chính, ngân sách, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho doanh nghiệp và nhà đầu tư; đồng thời đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, tăng cường minh bạch, nâng cao hiệu quả quản trị và quản lý rủi ro trong hệ thống tài chính, qua đó nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế trước các cú sốc bên ngoài. Việt Nam cũng cam kết tiếp tục đồng hành cùng cộng đồng quốc tế, tăng cường hợp tác và chia sẻ kinh nghiệm để cùng giải quyết các thách thức chung.

Hương Giang

Nguồn TBNH: https://thoibaonganhang.vn/nang-cao-suc-chong-chiu-cua-nen-kinh-te-179837.html