Nâng chất lượng hồ tiêu xuất khẩu trước sức ép cạnh tranh
Nguồn cung từ vụ thu hoạch mới của Brazil làm gia tăng lượng hàng chào bán, qua đó tạo áp lực cạnh tranh đối với hồ tiêu Việt Nam. Dự báo những tháng cuối năm, giá hồ tiêu tiếp tục giữ mặt bằng ổn định, song để tăng sức cạnh tranh, cần nâng chất lượng và đa dạng sản phẩm.
Xuất khẩu hồ tiêu tăng, nhưng chịu sức ép cạnh tranh
Theo Hiệp hội Hồ tiêu và cây gia vị Việt Nam (VPSA), vụ thu hoạch hồ tiêu Brazil đã kết thúc với kết quả khả quan hơn năm trước nhờ thời tiết thuận lợi và diện tích trồng mới được mở rộng.
Sản lượng hồ tiêu Brazil năm 2026 ước tính đạt trên 100.000 tấn. Nguồn cung được bổ sung liên tục cùng mức giá chào cạnh tranh của Brazil là một trong những yếu tố khiến thị trường hồ tiêu thế giới kém sôi động trong quý III.
Đáng chú ý, giá tiêu đen Brazil bình quân quý III đạt 5.809 USD/tấn, giảm 4,19% so với quý II và giảm 6,32% so với cùng kỳ năm 2025. Đây là mức giá thấp nhất trong nhóm 5 quốc gia sản xuất được VPSA so sánh.

Nguồn: Hiệp hội Hồ tiêu và cây gia vị Việt Nam. Ảnh: Đức Thanh - Đồ họa: Phương Anh
Trong bối cảnh giá tiêu đen tại các nước đều giảm so với quý trước, Brazil vẫn duy trì lợi thế về giá chào xuất khẩu trong nhóm quốc gia được so sánh. Không chỉ có lợi thế về giá, Brazil còn ghi nhận tăng trưởng xuất khẩu trong 9 tháng. Theo số liệu từ Comex Stat, Brazil xuất khẩu 65.802 tấn hồ tiêu, trị giá 407,2 triệu USD, tăng 2,8% về lượng so với cùng kỳ năm 2025.
Mặc dù Brazil gia tăng nguồn cung, song xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam vẫn duy trì tăng trưởng. Lũy kế 9 tháng năm 2026, Việt Nam xuất khẩu 215.733 tấn hồ tiêu, đạt kim ngạch gần 1,394 tỷ USD, tăng 15,4% về lượng và 10,2% về giá trị so với cùng kỳ năm trước.
VPSA cho hay, vụ thu hoạch hồ tiêu Việt Nam năm 2026 kết thúc với sản lượng giảm so với năm 2025, trong khi lượng tồn kho ở mức thấp. Đây là những yếu tố khiến giá hồ tiêu được dự báo có khả năng tăng vào cuối năm. Tuy nhiên, tình hình thực tế trong quý III lại chịu tác động từ nhiều yếu tố như xung đột địa chính trị kéo dài, vụ mùa hồ tiêu Brazil khả quan và lượng hàng Campuchia được đưa ra thị trường nhiều đã góp phần khiến giá hồ tiêu không tăng trong quý vừa qua.
Về nhập khẩu, trong 9 tháng, Việt Nam nhập khẩu 48.654 tấn hồ tiêu, tăng 34,7% so với cùng kỳ. Thị trường Campuchia là nguồn cung lớn nhất với 27.846 tấn, tăng 200,4% và chiếm 57,2% tổng lượng nhập khẩu. Nhập khẩu từ Brazil giảm 28,7%, xuống còn 12.715 tấn, trong khi Indonesia giảm 24%, còn 5.035 tấn.
Như vậy, bên cạnh nguồn cung Brazil trên thị trường quốc tế, sự gia tăng lượng hồ tiêu từ Campuchia cũng là một diễn biến đáng chú ý đối với thị trường Việt Nam.
VPSA nhận định, thị trường hồ tiêu những tháng cuối năm 2026 sẽ tiếp tục dao động với mặt bằng giá tương đối ổn định trong ngắn và trung hạn. Trong nước, hiện giá hồ tiêu tại các địa phương sản xuất trọng điểm từ đầu tháng 10 đến nay tiếp tục kéo dài chuỗi ngày đi ngang ở mức 137.000 - 141.000 đồng/kg.
Phát triển vùng nguyên liệu, chuẩn hóa dữ liệu cây trồng
Đánh giá triển vọng thị trường trong thời gian tới, bà Hoàng Thị Liên, Chủ tịch VPSA cho rằng, dù đã đạt được những kết quả tích cực, song chuỗi giá trị hồ tiêu xuất khẩu hiện vẫn còn điểm hạn chế.
Ở khâu sản xuất, nông hộ và hợp tác xã quy mô nhỏ lẻ vẫn chiếm trên 80%, khiến việc kiểm soát chất lượng, phòng chống dịch bệnh và tổ chức sản xuất theo tiêu chuẩn gặp nhiều khó khăn. Mặc dù ngành đang có xu hướng chuyển dần từ canh tác truyền thống sang canh tác hữu cơ và đáp ứng các tiêu chuẩn bền vững như SRP, RA hay GAP, quá trình chuyển đổi vẫn diễn ra chậm và chưa đồng đều giữa các vùng sản xuất.
Một trong những thách thức lớn nhất hiện nay là vấn đề chất lượng sản phẩm. Dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, tình trạng trồng xen gây nhiễm chéo và tác động của biến đổi khí hậu đang ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất cũng như chất lượng hạt tiêu. Bên cạnh đó, sự thiếu gắn kết giữa các hộ sản xuất khiến việc kiểm soát đồng bộ quy trình canh tác gặp nhiều trở ngại.
Nhận diện điểm nghẽn của chuỗi giá trị hồ tiêu
Theo các chuyên gia, điểm nghẽn cốt lõi của chuỗi giá trị hồ tiêu hiện nay là mối liên kết giữa doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân chưa thực sự bền chặt, hoạt động mua bán vẫn chủ yếu diễn ra theo giá thị trường tại từng thời điểm, thiếu các cơ chế hợp tác dài hạn nhằm chia sẻ lợi ích và rủi ro giữa các bên.
Theo bà Liên, ở khâu thu mua, hệ thống thương lái và đại lý trung gian vẫn đóng vai trò chủ đạo trong việc thu gom nguyên liệu. Chuỗi cung ứng qua nhiều tầng nấc làm gia tăng chi phí logistics, đồng thời gây khó khăn cho hoạt động truy xuất nguồn gốc và minh bạch thông tin sản phẩm.
Đối với khâu chế biến và xuất khẩu, mặc dù nhiều doanh nghiệp đã đầu tư công nghệ chế biến sâu để chế biến các sản phẩm như tiêu trắng, tiêu bột, tiêu ngâm muối và các sản phẩm giá trị gia tăng khác, nhưng tỷ trọng xuất khẩu tiêu thô vẫn còn cao. Trong khi đó, các thị trường lớn như EU, Hoa Kỳ và Trung Quốc liên tục nâng tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm, dư lượng hóa chất và yêu cầu phát triển bền vững, tạo áp lực lớn cho doanh nghiệp xuất khẩu. Ngoài ra, việc thiếu một thương hiệu quốc gia đủ mạnh cũng đang làm giảm sức cạnh tranh của ngành hàng.
Để tháo gỡ những khó khăn này, bà Liên đề xuất, cần tăng cường liên kết sản xuất thông qua việc rà soát, phát triển vùng nguyên liệu, chuẩn hóa dữ liệu cây trồng, cập nhật thông tin về các mô hình liên kết và đẩy mạnh tuyên truyền về lợi ích của kinh tế hợp tác. Các doanh nghiệp cần xây dựng hợp đồng liên kết minh bạch, cam kết về giá cả, đầu ra và quy trình sản xuất nhằm tạo niềm tin cho nông dân tham gia chuỗi.
Việc nâng cao chất lượng sản phẩm cần được thực hiện thông qua kiểm soát chặt chẽ vật tư đầu vào, hạn chế nguy cơ lây nhiễm chéo trong các mô hình trồng xen, quản lý hoạt động phun thuốc bằng thiết bị bay không người lái và mở rộng các chương trình tập huấn canh tác bền vững cho nông dân.

