Năng lượng - Yếu tố then chốt trong mục tiêu phát triển AI của Việt Nam

Theo TS. James Kang, giảng viên cấp cao ngành Khoa học máy tính, và ông Trần Quý Hưng, chuyên gia trí tuệ nhân tạo (AI), nghiên cứu sinh tiến sĩ tại Đại học RMIT, năng lượng ổn định, chi phí hợp lý cần trở thành nền tảng chiến lược cho mục tiêu phát triển AI của Việt Nam, bên cạnh dữ liệu, chip và hạ tầng điện toán.

Năng lượng ổn định là nền tảng cho tương lai của AI Việt Nam. (Nguồn: Pexels)

Năng lượng ổn định là nền tảng cho tương lai của AI Việt Nam. (Nguồn: Pexels)

Có thể thấy, chủ quyền trí tuệ nhân tạo (AI) dựa trên ít nhất bốn nền tảng gồm thuật toán, dữ liệu, chip và năng lượng. Trong số đó, có một lĩnh vực Việt Nam có thể chủ động đưa ra lựa chọn chiến lược của riêng mình: năng lượng.

Hiện nay, AI không tồn tại trên đám mây. AI vận hành trên máy móc vật lý trong các trung tâm dữ liệu, và những máy móc này cần điện liên tục để tính toán và làm mát. Nếu Việt Nam muốn thực sự đạt được chủ quyền AI thì vấn đề năng lượng là rất quan trọng.

Nguồn điện ổn định giữ vai trò lớn

Quy mô hạ tầng AI đang hình thành tại Việt Nam đã ở mức đáng kể. Việt Nam hiện có 41 trung tâm dữ liệu đang hoạt động với tổng công suất khoảng 221 MW. Viettel cũng đang phát triển một trung tâm dữ liệu siêu quy mô công suất 140 MW tại TP. Hồ Chí Minh, trong khi nhiều dự án quy mô lớn khác đang được lên kế hoạch.

Do đó, vấn đề không chỉ nằm ở việc Việt Nam có thể sản xuất bao nhiêu MW điện, mà còn là liệu có thể cung cấp đủ điện ổn định cho những cơ sở không thể bị gián đoạn. Trên cơ sở này, Việt Nam có cơ hội tốt hơn khi phát triển AI chuyên biệt dựa trên dữ liệu, ngôn ngữ và những ngành mà Việt Nam có lợi thế về kiến thức địa phương.

AI chuyên biệt vẫn cần hạ tầng điện toán, mà hạ tầng điện toán cần các trung tâm dữ liệu. Các trung tâm dữ liệu lại cần nguồn điện ổn định. Vì vậy, năng lượng không tách rời khỏi chủ quyền AI, mà chính là một trong những nền tảng của chủ quyền AI.

Làm mát trở thành lợi thế chiến lược

Các trung tâm dữ liệu cũng cần lượng điện đáng kể để loại bỏ nhiệt sinh ra từ máy chủ. Các nghiên cứu ước tính hoạt động làm mát thường chiếm khoảng 30-40% tổng mức tiêu thụ năng lượng của trung tâm dữ liệu, dù tỉ lệ này thay đổi tùy theo cơ sở và công nghệ được sử dụng.

Đối với Việt Nam, thách thức này đặc biệt đáng lưu ý do khí hậu nhiệt đới. Điện năng cần thiết để duy trì nhiệt độ phù hợp cho hạ tầng điện toán vừa là vấn đề kỹ thuật, vừa là một phần đáng kể trong bài toán kinh tế của hạ tầng AI.

Khi đó, đường bờ biển dài của Việt Nam có thể mở ra cơ hội để nghiên cứu các phương thức tiếp cận thay thế.

Thay vì đặt tất cả các trung tâm dữ liệu trên đất liền và phụ thuộc nhiều vào điện và nước để làm mát, Việt Nam có thể cân nhắc các địa điểm ven biển và hệ thống làm mát bằng nước biển tại những nơi đáp ứng các điều kiện về môi trường và kỹ thuật.

Các phương thức làm mát thay thế ngày càng khả thi về mặt kỹ thuật. Trung Quốc đã tiến tới triển khai thương mại, với một trung tâm dữ liệu dưới nước đang hoạt động tại Hải Nam và một cơ sở dưới nước công suất 24 MW tại Thượng Hải kết nối với nguồn điện gió ngoài khơi.

Từ kinh nghiệm của Trung Quốc, Việt Nam có thể nghiên cứu những dự án này, trong đó tập trung vào các vấn đề về bảo trì, kết nối, ăn mòn, an ninh và chi phí, đặc biệt khi công nghệ tiếp tục phát triển.

Chủ quyền AI không phải là sản xuất mọi thứ trong nước, mà là có đủ quyền kiểm soát đối với những yếu tố căn bản. (Nguồn: Pexels)

Chủ quyền AI không phải là sản xuất mọi thứ trong nước, mà là có đủ quyền kiểm soát đối với những yếu tố căn bản. (Nguồn: Pexels)

Chiến lược năng lượng đa dạng cho AI

Nguồn điện cung cấp cho hạ tầng AI cũng là một vấn đề chiến lược cần được cân nhắc. Việt Nam nên theo đuổi một tổ hợp công nghệ thay vì phụ thuộc vào một nguồn năng lượng duy nhất, trong đó năng lượng tái tạo, mở rộng lưới điện, lưu trữ năng lượng và thiết kế trung tâm dữ liệu hiệu quả hơn đều quan trọng.

Điện gió ngoài khơi đặc biệt phù hợp với định hướng này. Ngân hàng Thế giới (WB) ước tính tiềm năng kỹ thuật điện gió ngoài khơi của Việt Nam lên tới hàng trăm GW và xác định đây là nguồn điện quan trọng trong tương lai.

Bên cạnh đó, điện hạt nhân có thể đóng góp vào chiến lược năng lượng dài hạn. Việt Nam đã khởi động lại chương trình điện hạt nhân và vào tháng 3/2026 đã ký thỏa thuận với Nga về dự án Ninh Thuận 1, gồm hai lò phản ứng do Nga thiết kế với tổng công suất 2.400 MW. Điện hạt nhân truyền thống và các lò phản ứng mô-đun nhỏ (SMR) nên được xem là những lớp khác nhau trong chiến lược năng lượng.

SMR vẫn cần được phát triển thêm về công nghệ, kinh tế và quy định. Dự án Ninh Thuận quy mô lớn và các SMR trong tương lai nên được xem là hai lớp khác nhau của chiến lược năng lượng: điện hạt nhân truyền thống có thể củng cố lưới điện quốc gia, trong khi SMR có thể trở thành một lựa chọn cho các phụ tải công nghiệp và điện toán chuyên biệt nếu công nghệ này chứng minh được tính phù hợp về mặt thương mại và kỹ thuật.

Biến hạ tầng thành năng lực của Việt Nam

Trên cơ sở đó, Việt Nam có thể thực hiện ba ưu tiên sau:

Thứ nhất, nguồn điện ổn định với chi phí hợp lý cần được xem là một phần trong chiến lược AI quốc gia, thay vì là vấn đề tiện ích.

Thứ hai, Việt Nam cần xác định những địa điểm có thể phát triển đồng bộ năng lượng, hạ tầng trung tâm dữ liệu, kết nối cáp quang và hệ thống làm mát, bao gồm các khu vực ven biển, nơi làm mát bằng nước biển và điện gió ngoài khơi có thể mang lại những lợi thế tiềm năng.

Thứ ba, đầu tư nước ngoài vào các trung tâm dữ liệu cần đóng góp vào năng lực của Việt Nam thông qua phát triển kỹ năng, nghiên cứu, hợp tác công nghệ và các ứng dụng AI trong nước.

Thông qua những ưu tiên mũi nhọn này, mục tiêu của Việt Nam không chỉ là trở thành địa điểm đặt các máy AI của thế giới, mà còn phải biến hạ tầng cần thiết để vận hành AI thành nguồn năng lực cho Việt Nam.

TS. James Kang - NCS. Trần Quý Hưng

Nguồn TG&VN: https://baoquocte.vn/nang-luong-yeu-to-then-chot-trong-muc-tieu-phat-trien-ai-cua-viet-nam-433441.html