Nắng nóng cực đoan, áp lực cung ứng điện tăng cao
Miền Bắc đối mặt nguy cơ phụ tải lập đỉnh mới khi sản xuất công nghiệp và dòng vốn đầu tư tăng mạnh, trong khi thời tiết cực đoan và biến động nhiên liệu gia tăng rủi ro.

Phụ tải bùng nổ, ngành điện bước vào chiến dịch giữ nguồn
Miền Bắc tiếp tục là tâm điểm phụ tải điện
Năm 2026 được dự báo là một trong những năm hệ thống điện quốc gia chịu áp lực lớn khi nhu cầu tiêu thụ điện tiếp tục tăng cao, đặc biệt tại khu vực miền Bắc - nơi đang trở thành trung tâm thu hút đầu tư công nghiệp và dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Trong bối cảnh thời tiết cực đoan gia tăng và nhiều yếu tố bất định từ thị trường năng lượng quốc tế, việc bảo đảm cung ứng điện ổn định đang trở thành nhiệm vụ trọng tâm của ngành điện.
Theo ông Đỗ Văn Nam, Thành viên Hội đồng thành viên Tổng công ty Điện lực miền Bắc (EVNNPC), miền Bắc hiện là khu vực có tốc độ tăng trưởng phụ tải điện cao nhất cả nước trong nhiều năm liên tiếp. Đây cũng là địa bàn tập trung nhiều khu công nghiệp, trung tâm sản xuất lớn của các doanh nghiệp FDI, khiến nhu cầu điện liên tục gia tăng.
Dự báo trong năm 2026, công suất phụ tải cực đại của miền Bắc có thể đạt khoảng 21.500 MW, thậm chí vượt ngưỡng 22.000 MW trong những thời điểm nắng nóng gay gắt. Con số này cao hơn đáng kể so với mức kỷ lục gần 20.500 MW ghi nhận ngày 27/5/2025, tăng tới 28,5% so với cùng kỳ năm trước.
Trước áp lực phụ tải ngày càng lớn, EVNNPC đã triển khai nhiều giải pháp từ rất sớm. Ngay từ cuối năm 2025, đơn vị đã thực hiện đồng loạt các chương trình sửa chữa, nâng cấp và đầu tư lưới điện nhằm nâng cao khả năng cung ứng điện trong mùa khô.
“Trong các tháng cao điểm nắng nóng, EVNNPC huy động 100% lực lượng trực vận hành 24/7 để bảo đảm xử lý kịp thời các tình huống phát sinh, hạn chế tối đa nguy cơ gián đoạn cung cấp điện”, ông Nam cho biết.
Không chỉ ngành điện, cộng đồng doanh nghiệp sản xuất cũng đang chủ động thích ứng trước áp lực năng lượng ngày càng lớn.
Ông Lê Quang Trung - Giám đốc Công ty cổ phần Đầu tư phát triển Vicenza cho biết, các ngành sử dụng nhiều điện như gạch men, xi măng và thép đã thay đổi đáng kể tư duy quản trị năng lượng.
Theo đó, nhiều doanh nghiệp đã cơ cấu lại lịch sản xuất, chuyển các công đoạn tiêu thụ điện lớn sang khung giờ thấp điểm nhằm giảm chi phí và giảm áp lực cho hệ thống điện quốc gia.
Cùng với đó, doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư đổi mới công nghệ, thay thế thiết bị cũ bằng các dây chuyền hiện đại có hiệu suất năng lượng cao hơn. Giải pháp này không chỉ giúp giảm chi phí sản xuất mà còn góp phần tiết kiệm điện năng cho toàn hệ thống.
Một xu hướng đáng chú ý khác là phát triển điện mặt trời mái nhà theo mô hình tự sản xuất, tự tiêu thụ. Nhiều doanh nghiệp đang nghiên cứu triển khai các dự án điện mặt trời nhằm chủ động một phần nguồn năng lượng phục vụ sản xuất.
Theo các chuyên gia, việc doanh nghiệp tham gia tích cực vào quản lý nhu cầu điện sẽ giúp giảm đáng kể áp lực đầu tư nguồn điện mới, đồng thời nâng cao tính bền vững của hệ thống năng lượng quốc gia.
Tuy nhiên, thách thức đối với ngành điện không chỉ đến từ nhu cầu tiêu thụ tăng cao mà còn xuất phát từ những yếu tố bất định của cơ cấu nguồn điện.
Ông Hà Đăng Sơn, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Năng lượng và Tăng trưởng xanh cho biết, tổng công suất nguồn điện của Việt Nam hiện đạt khoảng 95.000 MW, trong đó hơn 50% là các nguồn năng lượng sạch. Đây là tín hiệu tích cực trong quá trình chuyển dịch năng lượng.
Tuy nhiên, tính ổn định của các nguồn điện này vẫn là vấn đề cần đặc biệt quan tâm.
Hiện thủy điện chiếm khoảng 26% tổng công suất hệ thống nhưng phụ thuộc hoàn toàn vào lượng mưa và điều kiện thủy văn. Trong khi đó, điện mặt trời và điện gió chiếm khoảng 27% công suất lắp đặt, song sản lượng thực tế thường không tương ứng với công suất thiết kế.
“Vào những ngày nắng nóng nhất, hiệu suất của các tấm pin mặt trời suy giảm đáng kể do nhiệt độ quá cao. Đồng thời, đây cũng là thời điểm gió thường yếu, khiến sản lượng điện gió giảm mạnh”, ông Sơn phân tích.
Đảm bảo an ninh năng lượng trong mọi kịch bản
Theo các chuyên gia năng lượng, năm 2026 còn đối mặt với nhiều yếu tố bất lợi từ thời tiết và thị trường năng lượng quốc tế.
Ông Hà Đăng Sơn nhận định, năm nay là giai đoạn chuyển tiếp mạnh từ hiện tượng La Ninã sang El Ninõ. Nắng nóng dự kiến xuất hiện từ tháng 5 nhưng cao điểm căng thẳng nhất có thể rơi vào tháng 7, với nền nhiệt tại một số khu vực lên tới 45 độ C.
Nhiệt độ cao kéo dài không chỉ khiến nhu cầu sử dụng điện tăng đột biến mà còn làm giảm hiệu suất vận hành của nhiều loại hình nguồn điện.
Bên cạnh đó, rủi ro địa chính trị toàn cầu cũng đang đặt ra thách thức không nhỏ cho an ninh năng lượng của Việt Nam.
Hiện nay, hệ thống điện vẫn phụ thuộc đáng kể vào nguồn than nhập khẩu và khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG). Các diễn biến căng thẳng tại Trung Đông, đặc biệt khu vực eo biển Hormuz, có thể ảnh hưởng tới chuỗi cung ứng nhiên liệu toàn cầu và đẩy giá LNG tăng mạnh.
“Nếu xảy ra gián đoạn nguồn cung hoặc giá nhiên liệu leo thang, việc điều hành hệ thống điện và kiểm soát chi phí phát điện sẽ gặp rất nhiều khó khăn”, ông Sơn cảnh báo.
Trước những thách thức này, Bộ Công Thương đã chủ động xây dựng các kịch bản điều hành từ cuối năm 2025.
Theo ông Nguyễn Thế Hữu, Phó Cục trưởng Cục Điện lực (Bộ Công Thương), Quyết định số 3477/QĐ-BCT phê duyệt phương thức vận hành hệ thống điện quốc gia năm 2026 đã đưa ra ba kịch bản tăng trưởng phụ tải điện cho năm 2026.
Trong đó, kịch bản cơ sở dự báo tăng trưởng phụ tải khoảng 8,5%; kịch bản điều hành ở mức 11,7%; còn kịch bản cực đoan có thể lên tới 14,1% trong các tháng cao điểm mùa khô.
Theo tính toán, tổng sản lượng điện toàn quốc năm 2026 dự kiến tăng khoảng 9,1% so với năm 2025. Áp lực lớn nhất tập trung vào tháng 5 và tháng 6 khi nhiệt độ tại nhiều tỉnh miền Bắc thường xuyên vượt 40 độ C, kết hợp với hiệu ứng đảo nhiệt đô thị.
Để bảo đảm không thiếu điện trong mọi tình huống, Bộ Công Thương đang triển khai đồng bộ sáu nhóm giải pháp trọng tâm.
Trước hết là liên tục cập nhật phương thức vận hành hệ thống điện theo diễn biến thực tế về thời tiết và thủy văn. Đơn vị vận hành hệ thống điện quốc gia phối hợp cùng Tập đoàn Điện lực Việt Nam thường xuyên điều chỉnh các kịch bản vận hành phù hợp.
Song song đó, ngành điện được yêu cầu tuyệt đối không để thiếu nhiên liệu cho phát điện, bao gồm than, khí, dầu và LNG, đặc biệt đối với các hợp đồng nhập khẩu dài hạn.
Các hồ thủy điện cũng được điều tiết linh hoạt nhằm duy trì mực nước hợp lý, bảo đảm dự phòng công suất cho các tháng nắng nóng cao điểm.
Một nhiệm vụ quan trọng khác là duy trì độ khả dụng cao nhất của các tổ máy phát điện, hạn chế tối đa việc dừng máy sửa chữa trong giai đoạn từ tháng 4 đến tháng 7.
Bộ Công Thương cũng yêu cầu đẩy nhanh tiến độ nhiều dự án nguồn và lưới điện quan trọng như Tổ máy số 2 Nhà máy BOT Vũng Áng 2, các dự án Quảng Trạch 1, Na Dương 2 và đặc biệt là hệ thống lưu trữ năng lượng bằng pin (BESS) công suất khoảng 800 MW tại miền Bắc.
Theo ông Nguyễn Thế Hữu, bên cạnh đầu tư nguồn điện mới, tiết kiệm điện vẫn là giải pháp vừa cấp bách vừa mang tính chiến lược lâu dài.
“Than, dầu và khí là những nguồn tài nguyên hữu hạn, trong khi tiềm năng thủy điện gần như đã khai thác hết. Tiết kiệm điện giúp giảm áp lực đầu tư nguồn mới và hạn chế phải huy động các nguồn điện chi phí cao như dầu hoặc LNG”, ông Hữu nhấn mạnh.
Năm 2026, ngành điện đặt mục tiêu tiết kiệm tối thiểu 3% tổng điện năng tiêu thụ toàn quốc. Chương trình điều chỉnh phụ tải điện (DR) phấn đấu giảm ít nhất 3.000 MW công suất cực đại trong giờ cao điểm.
Theo lãnh đạo Cục Điện lực, bảo đảm an ninh năng lượng không chỉ là nhiệm vụ của ngành điện mà cần sự chung tay của toàn xã hội. Mỗi hộ gia đình, cơ quan và doanh nghiệp sử dụng điện tiết kiệm, hiệu quả sẽ góp phần giảm áp lực cho hệ thống và bảo đảm nguồn điện ổn định phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
“Tất cả cùng hy sinh một phần nhỏ sự tiện nghi để tất cả cùng có điện sử dụng ổn định”, ông Nguyễn Thế Hữu chia sẻ.
Nguồn TBNH: https://thoibaonganhang.vn/nang-nong-cuc-doan-ap-luc-cung-ung-dien-tang-cao-183032.html











