Nâng sức hấp thụ vốn, tạo đà cho doanh nghiệp lớn lên
Mục tiêu tăng trưởng hai con số và có 2 triệu doanh nghiệp hoạt động vào năm 2030 đòi hỏi không chỉ mở rộng nguồn lực tài chính mà còn nâng khả năng tiếp nhận, sử dụng vốn. Khi phần lớn doanh nghiệp còn ở quy mô nhỏ, lợi nhuận mỏng, khó tìm kiếm khách hàng, công nghệ hạn chế, dòng vốn chỉ phát huy hiệu quả nếu đi cùng cải cách thể chế, phát triển thị trường vốn, dữ liệu và năng lực doanh nghiệp.

Nâng sức hấp thụ vốn không chỉ là tăng lượng vốn đưa vào nền kinh tế, mà là biến nguồn lực thành năng suất, công nghệ và giá trị gia tăng - Ảnh: Diệu Anh
Sức khỏe doanh nghiệp quyết định khả năng hấp thụ vốn
Nhìn nhận về bức tranh doanh nghiệp hiện nay, PGS.TS. Phạm Anh Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới cho biết, Nghị quyết 68-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030 cả nước có 2 triệu doanh nghiệp hoạt động. Trong khi đó, đến đầu năm 2026, Việt Nam mới có hơn 1 triệu doanh nghiệp.
Theo ông Tuấn, để hoàn thành mục tiêu, mỗi năm nền kinh tế phải tăng thêm khoảng 200.000 doanh nghiệp. Trong khi đó, giai đoạn 2016-2025 chưa năm nào số doanh nghiệp tăng ròng vượt 100.000. Khoảng cách này không chỉ phản ánh sức ép về số lượng mà còn đặt ra yêu cầu nâng cao chất lượng và sức khỏe doanh nghiệp.
Bức tranh 6 tháng đầu năm 2026 có những tín hiệu tích cực khi số doanh nghiệp thành lập mới, vốn đăng ký và lao động đều tăng. Dù vậy, theo ông Tuấn, số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường vẫn ở mức cao, đặc biệt số doanh nghiệp hoàn tất giải thể tăng 94,7% so với cùng kỳ. Điều này cho thấy việc thành lập thêm doanh nghiệp phải đi cùng khả năng duy trì hoạt động và phát triển lâu dài.
Quy mô nhỏ đang là đặc điểm phổ biến của khu vực doanh nghiệp. Ông Tuấn chỉ ra, khoảng 70% doanh nghiệp có vốn dưới 10 tỷ đồng và 81,4% doanh nghiệp sử dụng dưới 10 lao động. Tỷ suất lợi nhuận bình quân năm 2024 chỉ khoảng 2,2%, thấp hơn hoặc xấp xỉ lãi suất tiền gửi ngân hàng. Theo ông, những chỉ số này cho thấy khu vực doanh nghiệp vẫn còn yếu, trong khi chỉ một số ít doanh nghiệp quy mô lớn tăng trưởng tốt.
Báo cáo của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cũng cho thấy biên lợi nhuận của hơn 1 triệu doanh nghiệp đang hoạt động còn rất mỏng và gần một nửa doanh nghiệp chưa có lãi. Khảo sát của VCCI chỉ ra ba khó khăn lớn nhất là thị trường đầu ra, tiếp cận nguồn vốn và đổi mới quản trị. Có từ 45,3-60,2% doanh nghiệp gặp khó khăn trong tìm kiếm khách hàng, trong khi chỉ 37,9% doanh nghiệp ứng dụng công nghệ số từ mức trung bình trở lên...
Ông Phạm Ngọc Thạch, Phó Trưởng ban Pháp chế VCCI cho biết, doanh nghiệp thành lập mới có quy mô vốn bình quân đạt 12,22 tỷ đồng, cao hơn mức 9 tỷ đồng của năm 2025, trong khi vốn đăng ký bổ sung của các doanh nghiệp đang hoạt động lại giảm 11,1% so với cùng kỳ. Theo ông, khối doanh nghiệp hiện hữu đang dè dặt mở rộng, nhưng đặt cạnh dòng vốn mới dồi dào, đây là sự thận trọng hợp lý hơn là suy giảm niềm tin.
Muốn đạt được mục tiêu tăng trưởng 2 con số, GS.TS. Lê Văn Lợi, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam nhấn mạnh: “Nền kinh tế phải được xây dựng trên một nền tảng mới: năng suất cao hơn, doanh nghiệp mạnh hơn, thị trường thông suốt hơn, công nghệ hiện đại hơn và bộ máy thực thi chất lượng, hiệu quả hơn”.
Theo ông Lợi, ổn định vĩ mô mới là điều kiện cần, còn năng lực tăng trưởng thực chất được tạo ra ở cấp doanh nghiệp, ngành kinh tế, địa phương, dự án đầu tư và từng thị trường. Nền kinh tế khó tăng trưởng nhanh nếu doanh nghiệp mất nhiều thời gian, chi phí hoàn tất thủ tục; nguồn vốn chưa đến các dự án có năng suất cao; đất đai, dữ liệu, công nghệ và nhân lực chưa được sử dụng hiệu quả.
Theo PGS.TS. Phạm Anh Tuấn, phát triển thị trường vốn cho toàn bộ hệ thống doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng. Tín dụng ngân hàng trong thời gian dài gần như là nguồn cung cấp vốn quan trọng nhất của nền kinh tế. Tuy nhiên, đây không phải là phương thức cung cấp vốn duy nhất. Vì vậy, Việt Nam cần mở rộng các kênh huy động vốn và cung cấp tín dụng cho doanh nghiệp, qua đó giảm sự phụ thuộc quá lớn vào nguồn vốn ngân hàng.

Dây chuyền lắp ráp cụm dây dẫn điện tự động tại Công ty Bandai đóng trên địa bàn tỉnh Phú Thọ - Ảnh: Trần Việt
Cùng khơi thông nguồn lực, nâng năng lực doanh nghiệp
Theo PGS.TS. Nguyễn Mạnh Hùng, Phó Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, thực tế phát triển của doanh nghiệp cho thấy một bức tranh đa chiều. Khối doanh nghiệp trong nước đang rất cần vốn nhưng lại khó hấp thụ vốn; đang nỗ lực chuyển đổi số nhưng đồng thời gặp nhiều vướng mắc về thể chế và chi phí tuân thủ. Do đó, chính sách vi mô cần được đánh giá thận trọng trên cơ sở cân đối giữa chi phí và lợi ích, vừa quản lý rủi ro, vừa giảm chi phí giao dịch, kiến tạo không gian cho đổi mới sáng tạo và phát triển doanh nghiệp.
Để thúc đẩy doanh nghiệp lớn lên, PGS.TS. Phạm Anh Tuấn đề xuất sáu nhóm chính sách vi mô gồm tiếp tục cải cách thể chế, giảm chi phí tuân thủ; khơi thông các nguồn lực; phát triển thị trường vốn; hoàn thiện chính sách thuế hỗ trợ đầu tư, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; phát triển dữ liệu, hạ tầng số; nâng cao năng lực hấp thụ của doanh nghiệp trong nước.
Ông Tuấn cũng đề xuất chính sách cần được thiết kế phù hợp với từng nhóm doanh nghiệp. Hộ kinh doanh và doanh nghiệp siêu nhỏ góp phần bảo đảm sinh kế; doanh nghiệp nhỏ và vừa tạo việc làm và giữ cân bằng cho hệ thống; doanh nghiệp lớn có khả năng tăng trưởng cao và đóng vai trò dẫn dắt nền kinh tế. Đồng thời, cần hình thành những doanh nghiệp đủ năng lực cạnh tranh toàn cầu, đại diện cho Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị quốc tế.
“Mục tiêu là doanh nghiệp siêu nhỏ phát triển thành doanh nghiệp nhỏ và vừa; doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển thành doanh nghiệp lớn; doanh nghiệp lớn trở thành lực lượng dẫn dắt trong khu vực và trên thế giới. Muốn vậy, chính sách phải mang tính dài hạn, giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực thực chất, thay vì chỉ hỗ trợ ngắn hạn", ông Tuấn nhấn mạnh.
Gợi mở các chính sách, GS.TS. Lê Văn Lợi cho hay, chính sách vi mô đột phá không phải là những giải pháp nhỏ lẻ hay sự hỗ trợ riêng biệt dành cho một vài doanh nghiệp. Chính sách phải tác động trực tiếp vào các điểm nghẽn của hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo ra thay đổi rõ ràng về chi phí, năng suất, khả năng huy động nguồn lực và động lực đổi mới của hàng triệu chủ thể kinh tế.
Ông Lợi nhấn mạnh: “Điều quan trọng là mỗi chính sách phải trả lời được 3 câu hỏi: Điểm nghẽn nào đang được tháo gỡ? Năng lực sản xuất nào sẽ được giải phóng? Và kết quả có thể được đo lường bằng những chỉ tiêu cụ thể như thế nào?”.
Theo đó, nâng sức hấp thụ vốn không chỉ là tăng lượng vốn đưa vào nền kinh tế, mà là biến nguồn lực thành năng suất, công nghệ và giá trị gia tăng. Khi cải cách thể chế, phát triển thị trường vốn, dữ liệu, hạ tầng số và năng lực doanh nghiệp được triển khai đồng bộ, dòng vốn sẽ có thêm điều kiện đi vào hoạt động hiệu quả, giúp doanh nghiệp mở rộng quy mô và đóng góp cho tăng trưởng cao, bền vững.










![[Emagazine] Tiết kiệm năng lượng: Mở cửa ra biển lớn - Bài 1](https://photo-baomoi.bmcdn.me/w250_r3x2/2026_07_22_59_55671163/2610239f6dd4848addc5.jpg)
