Nâng tầm logistics cho hành trình xuất nhập khẩu 1.000 tỷ USD
Xuất nhập khẩu tiến tới mốc 1.000 tỷ USD đặt ra yêu cầu phát triển logistics hiện đại, hiệu quả, qua đó nâng sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam.
Khi quy mô xuất nhập khẩu Việt Nam tiến tới mốc 1.000 tỷ USD, phát triển logistics tương xứng sẽ góp phần giảm chi phí, nâng sức cạnh tranh và tạo thêm động lực tăng trưởng cho nền kinh tế.
Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, ông Trần Thanh Hải - Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương cho rằng, sự phát triển của hoạt động xuất nhập khẩu đang đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với logistics. Việc triển khai Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025 - 2035, tầm nhìn đến năm 2050 cần gắn chặt với thực tiễn của từng địa phương, doanh nghiệp, qua đó từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành logistics Việt Nam.

Ông Trần Thanh Hải - Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương
Logistcs tạo lực đẩy cho xuất nhập khẩu
- Xuất nhập khẩu Việt Nam đang tiến dần tới mốc 1.000 tỷ USD. Ông đánh giá như thế nào về vai trò của logistics và những đóng góp của ngành logistics đối với kết quả này?
Ông Trần Thanh Hải: Có thể nói, cùng với sự phát triển của sản xuất, mở rộng thị trường và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, logistics có vai trò rất quan trọng đối với tăng trưởng xuất nhập khẩu của Việt Nam trong những năm qua.
Quy mô xuất nhập khẩu ngày càng lớn đồng nghĩa với khối lượng hàng hóa lưu chuyển ngày càng nhiều. Điều này đặt ra yêu cầu cao hơn đối với hoạt động vận tải, kho bãi, giao nhận, thông quan cũng như tổ chức và quản trị chuỗi cung ứng.
Đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu, logistics tác động trực tiếp đến thời gian giao hàng, khả năng thực hiện hợp đồng và chi phí của hàng hóa. Nếu tổ chức logistics tốt, doanh nghiệp có thể rút ngắn thời gian vận chuyển, giảm chi phí lưu kho, nâng cao khả năng đáp ứng đơn hàng và qua đó tăng sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường.
Vai trò của logistics càng thể hiện rõ trong bối cảnh thương mại quốc tế có nhiều biến động. Những vấn đề về địa chính trị, gián đoạn tuyến vận tải, giá nhiên liệu biến động hay thay đổi trong chính sách thương mại của các thị trường đều có thể tác động tới chuỗi cung ứng. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải chủ động hơn trong lựa chọn phương thức vận tải, tuyến vận chuyển, thị trường cũng như nguồn cung nguyên liệu.
Với quy mô xuất nhập khẩu đang tiếp tục được mở rộng và tiến tới mốc 1.000 tỷ USD, nhu cầu đối với dịch vụ logistics sẽ còn rất lớn. Do đó, năng lực logistics cũng cần được nâng lên tương xứng để vừa đáp ứng yêu cầu lưu chuyển hàng hóa, vừa hỗ trợ doanh nghiệp tận dụng tốt hơn các cơ hội thị trường và các hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam tham gia.
- Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2229/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025 - 2035, tầm nhìn đến năm 2050. Theo ông, Chiến lược sẽ đóng góp như thế nào vào việc nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành logistics, đồng thời góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số của nền kinh tế?
Ông Trần Thanh Hải: Quyết định số 2229/QĐ-TTg đã xác định phát triển dịch vụ logistics thành một ngành kinh tế quan trọng, có giá trị gia tăng cao, đồng thời coi logistics là yếu tố động lực, dịch vụ thiết yếu thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
Đây là điểm rất quan trọng bởi Chiến lược tạo ra một định hướng tổng thể và dài hạn cho phát triển logistics Việt Nam. Trong đó, các vấn đề từ thể chế, kết cấu hạ tầng, phát triển thị trường, nâng cao năng lực doanh nghiệp đến chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và phát triển nguồn nhân lực đều được đặt trong một tổng thể chung.
Chiến lược đặt mục tiêu trong giai đoạn 2025 - 2035, tốc độ tăng trưởng trung bình của ngành dịch vụ logistics đạt 12 - 15%/năm; tỷ trọng giá trị tăng thêm của dịch vụ logistics trong GDP đạt 5 - 7%. Bên cạnh đó là các mục tiêu về giảm chi phí logistics, cải thiện Chỉ số năng lực logistics, phát triển các trung tâm dịch vụ logistics hiện đại và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Để thực hiện mục tiêu tăng trưởng cao của nền kinh tế trong những năm tới, quy mô sản xuất, thương mại và lưu thông hàng hóa sẽ tiếp tục được mở rộng. Điều này đồng nghĩa với nhu cầu về dịch vụ logistics cũng tăng lên và đòi hỏi ngành logistics phải phát triển tương xứng cả về hạ tầng, chất lượng dịch vụ và năng lực của doanh nghiệp.
Nếu các nhiệm vụ của Chiến lược được triển khai hiệu quả, logistics sẽ góp phần cải thiện khả năng kết nối giữa sản xuất với thị trường, giảm thời gian và chi phí lưu thông hàng hóa, từ đó nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp và đóng góp thiết thực vào mục tiêu tăng trưởng hai con số của nền kinh tế.
Từ chiến lược đến năng lực logistics thực chất

Phát triển logistics hiện đại, hiệu quả sẽ góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam khi quy mô xuất nhập khẩu ngày càng mở rộng
- Bộ Công Thương đã và đang triển khai những giải pháp gì để đưa Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025 - 2035, tầm nhìn đến năm 2050 vào cuộc sống? Ông đánh giá như thế nào về hiệu quả các chương trình làm việc với địa phương trong triển khai Chiến lược thời gian qua?
Ông Trần Thanh Hải: Sau khi Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược, Bộ Công Thương đã triển khai các công việc theo từng bước để đưa những mục tiêu, nhiệm vụ của Chiến lược vào thực tế.
Trước hết, Bộ Công Thương tổ chức Hội nghị triển khai Chiến lược với sự tham gia của các bộ, ngành, địa phương, hiệp hội, doanh nghiệp và các cơ sở đào tạo. Tiếp đó, Bộ làm việc với các Bộ, ngành, hiệp hội, địa phương và doanh nghiệp để trao đổi về tình hình triển khai, nắm bắt những vấn đề đặt ra trong thực tế và tiếp nhận các kiến nghị.
Ngày 13/3/2026, Bộ Công Thương ban hành Quyết định số 458/QĐ-BCT về Kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025 - 2035, tầm nhìn đến năm 2050. Qua đó, các nhiệm vụ của Bộ Công Thương trong triển khai Chiến lược được cụ thể hóa để tổ chức thực hiện.
Một bước tiếp theo rất quan trọng là làm việc trực tiếp với các địa phương. Mục đích của các chương trình này là trao đổi thông tin, đánh giá thực trạng phát triển logistics, nhận diện những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai Chiến lược và cùng địa phương đề xuất các giải pháp phù hợp.
Thực tế cho thấy mỗi địa phương có những điều kiện khác nhau về vị trí địa lý, cơ cấu kinh tế, nguồn hàng và hệ thống hạ tầng. Có địa phương có lợi thế về cảng biển, có địa phương có cửa khẩu, có địa phương tập trung nhiều khu công nghiệp hoặc vùng sản xuất hàng hóa lớn. Có địa phương lại rất khó khăn vì không có những lợi thế trên. Vì vậy, triển khai Chiến lược phải gắn với điều kiện và nhu cầu thực tế của từng địa phương, đồng thời bảo đảm sự liên kết với các địa phương khác trong vùng.
Qua các chương trình làm việc, chúng tôi cũng ghi nhận được nhiều vấn đề thực tế liên quan đến kết nối hạ tầng, quy hoạch, phát triển trung tâm logistics, nguồn hàng, ứng dụng công nghệ cũng như cơ chế phối hợp. Đây là những thông tin rất quan trọng để cơ quan quản lý cùng địa phương xác định những nhiệm vụ cần ưu tiên trong quá trình triển khai Chiến lược.
Qua đây, chúng tôi nhận thấy yếu tố tiên quyết để phát triển dịch vụ logistics là sự quan tâm của lãnh đạo địa phương. Những địa phương có sự quan tâm chỉ đạo sát sao của lãnh đạo cùng với cách làm phù hợp sẽ nhanh chóng tận dụng được lợi thế, hoặc tìm ra những giải pháp để vượt qua khó khăn, đưa logistics phát triển.
Điều quan trọng là thông qua quá trình này, Chiến lược từng bước được cụ thể hóa thành những nội dung gắn với thực tiễn phát triển kinh tế, công nghiệp, thương mại và xuất nhập khẩu của từng địa phương.
- Bên cạnh những kết quả đạt được, đâu là những điểm nghẽn lớn nhất đang cản trở sự phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh của logistics Việt Nam? Theo ông, đâu là vấn đề cần ưu tiên giải quyết trong giai đoạn tới?
Ông Trần Thanh Hải: Trong những năm qua, logistics Việt Nam đã có bước phát triển tích cực, cả về số lượng doanh nghiệp, loại hình dịch vụ cũng như khả năng đáp ứng nhu cầu của hoạt động sản xuất và xuất nhập khẩu. Tuy nhiên, so với yêu cầu phát triển của nền kinh tế trong giai đoạn tới, vẫn còn nhiều vấn đề cần tiếp tục giải quyết.
Trước hết là tính đồng bộ và khả năng kết nối. Logistics là tổ hợp của rất nhiều hoạt động, nhiều loại hình dịch vụ, liên quan đến nhiều lĩnh vực, nhiều phương thức, nhiều địa phương và nhiều chủ thể khác nhau. Vì vậy, nếu thiếu sự kết nối thì rất khó tối ưu được toàn bộ chuỗi. Cũng chính vì thế, công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực này hiện nay còn bất cập khi không có lực lượng chuyên trách với đủ thẩm quyền điều phối.
Bên cạnh hạ tầng giao thông, chúng ta còn phải quan tâm đến hạ tầng kho bãi, trung tâm logistics, cảng cạn và khả năng kết nối giữa các khu vực sản xuất, khu công nghiệp với cửa khẩu, cảng biển và thị trường tiêu thụ. Chúng ta có một số cảng biển, sân bay lớn, nhưng đội tàu vận tải container và đội tàu bay chuyên chở hàng hóa thì còn đang rất thiếu, thậm chí chưa có. Nên rất cần định hướng, hỗ trợ để doanh nghiệp đầu tư vào những lĩnh vực này.
Một vấn đề khác là năng lực của doanh nghiệp logistics. Trong bối cảnh yêu cầu của khách hàng ngày càng cao, doanh nghiệp không thể chỉ cung cấp những dịch vụ đơn lẻ mà cần nâng cao khả năng cung cấp dịch vụ tích hợp, ứng dụng công nghệ và tham gia sâu hơn vào quá trình quản trị chuỗi cung ứng của khách hàng. Việc hỗ trợ, thúc đẩy doanh nghiệp logistics vươn ra thị trường quốc tế cũng rất quan trọng.
Cùng với đó, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và nguồn nhân lực là những nội dung cần được quan tâm trong thời gian tới. Đây cũng là những nhiệm vụ quan trọng đã được đặt ra trong Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam.
Theo tôi, một trong những yêu cầu cấp thiết là phải tăng cường liên kết. Đó là liên kết giữa các phương thức vận tải, giữa các địa phương, giữa doanh nghiệp logistics với doanh nghiệp sản xuất, xuất nhập khẩu, đồng thời tăng cường chia sẻ thông tin và dữ liệu trong chuỗi cung ứng.
Khi các chủ thể kết nối tốt hơn, nguồn lực được sử dụng hiệu quả hơn thì chúng ta mới có điều kiện giảm chi phí, nâng cao chất lượng dịch vụ và cải thiện năng lực cạnh tranh của logistics Việt Nam.
- Với quy mô xuất nhập khẩu ngày càng lớn và những định hướng mới từ Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam, ông kỳ vọng diện mạo ngành logistics Việt Nam sẽ thay đổi như thế nào trong những năm tới? Đâu sẽ là những động lực quan trọng để ngành logistics duy trì tốc độ tăng trưởng cao và đóng góp nhiều hơn cho nền kinh tế?
Ông Trần Thanh Hải: Trong những năm tới, cùng với sự phát triển của nền kinh tế và hoạt động xuất nhập khẩu, ngành logistics Việt Nam có nhiều điều kiện để tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng cao.
Trước hết, nhu cầu thị trường sẽ là một động lực rất lớn. Khi sản xuất công nghiệp phát triển, xuất nhập khẩu mở rộng, thương mại điện tử tăng trưởng thì nhu cầu vận chuyển, kho bãi, phân phối và quản trị chuỗi cung ứng cũng tăng theo.
Tuy nhiên, điều chúng ta hướng tới không chỉ là tăng về quy mô. Logistics Việt Nam cần từng bước nâng cao chất lượng và giá trị gia tăng của dịch vụ. Doanh nghiệp cần có khả năng cung cấp nhiều dịch vụ tích hợp hơn, vươn lên ở vị trí đầu chuỗi dịch vụ logistics, tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng của doanh nghiệp sản xuất và xuất nhập khẩu.
Cùng với đó là quá trình chuyển đổi số. Việc ứng dụng công nghệ, khai thác dữ liệu và số hóa các quy trình sẽ giúp doanh nghiệp quản lý phương tiện, kho hàng, đơn hàng và hoạt động vận chuyển hiệu quả hơn. Đây là cơ sở quan trọng để nâng cao năng suất và chất lượng dịch vụ.
Chuyển đổi xanh cũng là một xu hướng cần được quan tâm. Các yêu cầu liên quan đến môi trường và phát thải trong chuỗi cung ứng quốc tế ngày càng rõ nét. Doanh nghiệp logistics Việt Nam cần chủ động thích ứng để đáp ứng yêu cầu của khách hàng và thị trường.
Tôi cho rằng, nếu chúng ta triển khai tốt Chiến lược, đồng thời tạo được sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý nhà nước, địa phương, hiệp hội và cộng đồng doanh nghiệp, ngành logistics Việt Nam sẽ có điều kiện phát triển theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp, hiệu quả và có giá trị gia tăng cao hơn.
Khi đó, logistics không chỉ đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn của hoạt động sản xuất và xuất nhập khẩu mà còn đóng góp trực tiếp nhiều hơn vào tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
