Nâng trần tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn: NIM ngân hàng có thể bớt áp lực
Việc nhà điều hành cho phép sử dụng nhiều vốn ngắn hạn hơn cho các hoạt động tín dụng trung và dài hạn được kỳ vọng sẽ giúp giảm áp lực tái cơ cấu kỳ hạn đối với NHTM, đồng thời mang lại tác động tích cực đối với biên lãi ròng (NIM).
Chênh lệch tín dụng - huy động nới rộng
Mặc dù lãi suất huy động đã tăng đáng kể từ cuối 2025, chênh lệch tăng trưởng tín dụng và huy động vẫn ở mức cao trong những tháng đầu năm.
Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước, đến ngày 29/5/2026, dư nợ tín dụng đạt 19,66 triệu tỷ đồng, tăng 5,71% so với cuối năm trước trong khi huy động vốn tăng 2,98%. Khoảng cách giữa tăng trưởng tín dụng và huy động sau 5 tháng đầu năm là 2,73 điểm %, tăng nhẹ so với mức 2,63% tại cuối quý I.
Trong một nhận định mới đây, Chứng khoán Mirae Asset Việt Nam (MAS) nhận định rằng chênh lệch tín dụng va huy động nhiều khả năng vẫn chưa thể cải thiện trong tháng 6. Tại cuối quý I, tỷ lệ LDR tại nhiều ngân hàng lớn đã tiệm cận rất gần ngưỡng tối đa. Do vậy, mặc dù NHNN tích cực định hướng giảm lãi suất, xu hướng chung cho thấy lãi suất duy trì hơn là giảm đáng kể.

Ảnh: MAS
Thêm vào đó, lãi suất kênh liên ngân hàng vẫn ở mức cao, đặc biệt trong các giai đoạn cuối kỳ báo cáo tháng/quý, cho thấy nhu cầu huy động ngắn hạn để đáp ứng các tiêu chí thanh khoản từ các ngân hàng thương mại là không hề nhỏ, ảnh hưởng đến chi phí huy động của các ngân hàng.
Các ngân hàng lớn mặc dù vẫn duy trì được tỷ lệ huy động ngắn hạn cho vay trung và dài hạn phù hợp, dư địa cũng ngày càng thu hẹp. Ngược lại, nhu cầu cung ứng vốn từ hệ thống tín dụng cho các dự án, đại dự án (vay dài hạn) lại tương đối lớn và cấp bách.
Nâng trần tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn lên 40% từ 1/7
Ngày 22/6/2026, NHNN đã công bố Thông tư số 25 sửa đổi Thông tư 22/2019 quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Theo đó, Thông tư mới có hiệu lực từ 1/7 sẽ chính thức điều chỉnh tỷ lệ của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung hạn và dài hạn của các tổ chức tín dụng lên tối đa 40% so với mức 30% hiện tại.
Thay vì hỗ trợ thanh khoản trực tiếp vào hệ thống, MAS cho rằng việc nhà điều hành cho phép sử dụng nhiều vốn ngắn hạn hơn cho các hoạt động tín dụng trung và dài hạn sẽ giúp giảm áp lực tái cơ cấu kỳ hạn đối với các ngân hàng thương mại mà không ảnh hưởng trực tiếp đến cung tiền, tránh tác động đến tỷ giá và lạm phát.
Theo nhóm phân tích, điều này có thể hỗ trợ thu nhập cho các thành phần kinh tế bao gồm ngân hàng thương mại (ổn định biên lãi suất) và các thực thể có nhu cầu vay (lãi suất cho vay không tiếp tục tăng).

Ảnh: KBSV
Đồng quan điểm với MAS, KBSV cũng kỳ vọng việc nâng trần tỷ lệ vốn ngắn hạn sử dụng cho vay trung dài hạn một khi có hiệu lực sẽ tạo tác động tích cực đến biên lãi ròng (NIM) ngân hàng. Bởi điều này cho phép các ngân hàng thương mại gia tăng tỷ trọng sử dụng nguồn vốn ngắn hạn có chi phí vốn (COF) thấp hơn để tài trợ cho danh mục tín dụng trung và dài hạn, qua đó giảm áp lực huy động vốn kỳ hạn dài hoặc phát hành giấy tờ có giá với COF cao hơn đáng kể.
Ngoài ra, trong bối cảnh Chính phủ đẩy mạnh đầu tư công, phát triển hạ tầng chiến lược và thúc đẩy đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh, nhu cầu vốn trung và dài hạn được kỳ vọng duy trì tích cực. Theo đó, việc nới trần tỷ lệ tối đa vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn lên 40% cũng góp phần gia tăng khả năng cung ứng vốn trung và dài hạn, đồng thời giảm bớt áp lực về cơ cấu kỳ hạn nguồn vốn của hệ thống.
Nhìn chung, KBSV kỳ vọng việc dự thảo được thông qua sẽ mang lại lợi thế rõ nét hơn cho nhóm ngân hàng có tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn tiệm cận mức trần 30% (theo quy định tại Thông tư 22/2019); nhóm ngân hàng có danh mục cho vay trung dài hạn chiếm tỷ trọng lớn, và cuối cùng là nhóm có nguồn vốn CASA dồi dào.

Ảnh: KBSV
Tuy vậy, từ góc nhìn thận trọng, nhóm phân tích không loại trừ khả năng mức độ mất cân đối giữa kỳ hạn nguồn vốn và kỳ hạn tài sản gia tăng khi các ngân hàng thương mại đẩy mạnh tài trợ cho các khoản vay trung dài hạn bằng nguồn vốn ngắn hạn.
Do đó, cùng với xu hướng tăng trưởng mạnh mẽ của ngành ngân hàng, yêu cầu về quản trị tài sản – nguồn vốn và kiểm soát rủi ro thanh khoản cần được chú trọng hơn, đặc biệt trong bối cảnh lãi suất biến động như hiện tại.
Mặt khác, MAS cũng lưu ý rằng mặc dù mục tiêu của việc điều chỉnh tỷ lệ của nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung hạn và dài hạn của các tổ chức tín dụng lên mức 40% là hướng đến hỗ trợ cấp vốn thực hiện các dự án đầu tư công hoặc các đại dự án cấp quốc gia được thực hiện bởi các tập đoàn tư nhân; những dự án này cũng không thể tránh khỏi có phần liên quan đến bất động sản.
Thực tế, tại các dự án BT về đổi dự án lấy hạ tầng, mặc dù mục đích giải ngân có thể sẽ được ghi nhận không liên quan đến bất động sản, nhưng về bản chất cũng vẫn có sự liên đới.
Ngoài ra, nhìn vào diễn biến tăng trưởng tín dụng quý đầu năm, đa phần hạn mức tăng trưởng được sử dụng triệt để, cho thấy sự phụ thuộc lớn của kinh tế vào tín dụng. Nhưng MAS đánh giá nếu nắn dòng vốn thiên về cho vay dài hạn, những khoản vay ngắn hạn cho mục đích sản xuất kinh doanh có thể bị đội chi phí do lệch pha cung cầu.












