Nền móng cho tăng trưởng dài hạn và sức hút đầu tư của Việt Nam

Trong bối cảnh thế giới liên tiếp chứng kiến những cú sốc địa chính trị, đứt gãy chuỗi cung ứng và biến động giá nhiên liệu, vấn đề an ninh năng lượng đang trở thành một trong những tiêu chí hàng đầu khi các tập đoàn quốc tế lựa chọn điểm đến đầu tư.

Bạc Liêu có nhiều dự án điện gió ngoài khơi. Ảnh: Chanh Đa/TTXVN

Bạc Liêu có nhiều dự án điện gió ngoài khơi. Ảnh: Chanh Đa/TTXVN

Khi Việt Nam ban hành Nghị quyết số 70-NQ/TW về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, thông điệp được gửi đi không đơn thuần là một định hướng phát triển ngành năng lượng, mà đó là tầm nhìn phát triển quốc gia trong một thời đại mà an ninh năng lượng ngày càng gắn chặt với an ninh kinh tế.

Trao đổi với phóng viên TTXVN tại London, ông Nguyễn Sơn Tùng, nhà đầu tư thuộc công ty M&G Investments (Anh), nhà đồng sáng lập Hiệp hội Tài chính và Đầu tư Việt Nam tại Vương quốc Anh (VIFA) nhận định: "Việt Nam nhìn an ninh năng lượng không chỉ là vấn đề kỹ thuật, mà là điều kiện cần để tăng năng lực cạnh tranh kinh tế và thu hút đầu tư dài hạn. Với nhà đầu tư quốc tế, điều họ quan tâm nhất không chỉ là tiềm năng tăng trưởng, mà còn là sự rõ ràng của chính sách.

Nghị quyết 70-NQ/TW đưa ra lộ trình đến 2030 và tầm nhìn 2045, trong đó nhấn mạnh cung cấp năng lượng đầy đủ, ổn định, chất lượng cao cho phát triển kinh tế - xã hội. Đây là một tín hiệu tích cực, vì nó cho thấy Việt Nam đang chuyển sang tư duy xây dựng hệ thống năng lượng bền vững, linh hoạt và có khả năng chống chịu".

Khi một quốc gia xác lập tầm nhìn đến năm 2045, đồng nghĩa với việc quốc gia đó đang gửi đi tín hiệu rằng họ hiểu các dự án năng lượng không được tính bằng tháng hay năm, mà bằng nhiều thập kỷ. Các nhà đầu tư hạ tầng, quỹ đầu tư lớn hay tập đoàn công nghiệp toàn cầu luôn cần sự nhất quán đó.

Việt Nam cũng đang sở hữu một lợi thế hiếm có trong khu vực: nhu cầu năng lượng tăng mạnh song hành với quá trình công nghiệp hóa và dịch chuyển chuỗi cung ứng. Điều này tạo ra một thị trường thực chất, không phải nhu cầu trên giấy.

Như nhận định của ông Nguyễn Sơn Tùng, "điểm hấp dẫn của Việt Nam là nhu cầu năng lượng xanh là có thật, chứ không chỉ là phong trào". Nhận xét này đặc biệt đáng suy ngẫm. Trong nhiều năm, chuyển đổi xanh ở không ít quốc gia chỉ dừng lại ở mức khẩu hiệu chính sách hoặc xu hướng truyền thông, hơn là những cam kết đi kèm hành động thực chất. Nhưng tại Việt Nam, năng lượng sạch ngày càng trở thành yêu cầu sản xuất.

Khi quyết định đặt cơ sở sản xuất mới, các tập đoàn quốc tế không chỉ cân nhắc chi phí lao động hay ưu đãi thuế, mà còn đánh giá mức độ ổn định của nguồn điện và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn ESG (Môi trường - Xã hội - Quản trị) toàn cầu. Nói cách khác, năng lượng sạch giờ đây là một phần của năng lực cạnh tranh quốc gia. Đây là áp lực, nhưng cũng là cơ hội, nếu Việt Nam biết nắm bắt đúng lúc.

Nhìn rộng ra khu vực, Đông Nam Á đang trở thành "đấu trường" mới của dòng vốn năng lượng sạch toàn cầu. Indonesia với trữ lượng địa nhiệt khổng lồ, Philippines với gió và Mặt Trời, Thái Lan với hạ tầng tài chính xanh đang dần hoàn thiện - tất cả đều đang chạy đua thu hút những đồng vốn mà giờ đây đi kèm điều kiện: phải xanh, phải bền vững, phải đo đếm được lượng carbon.

Trong cuộc đua đó, Việt Nam có những lợi thế riêng, không dễ sao chép. Theo ông Nguyễn Sơn Tùng, "Việt Nam đang nổi lên như một điểm đến rất đáng chú ý cho dòng vốn năng lượng sạch tại Đông Nam Á. Thứ nhất, Việt Nam có nhu cầu điện tăng rất nhanh nhờ công nghiệp hóa, FDI, đô thị hóa và sự dịch chuyển chuỗi cung ứng. Thứ hai, Việt Nam có tiềm năng lớn về điện gió, điện Mặt Trời, LNG, thủy điện tích năng, và trong dài hạn có thể có cả điện hạt nhân. Thứ ba, Việt Nam đã thể hiện quyết tâm chính sách khá rõ, với mục tiêu tăng mạnh công suất phát điện và giảm dần phụ thuộc vào than".

Nhìn về dài hạn, ông Nguyễn Sơn Tùng nhấn mạnh: "Nền kinh tế Việt Nam không thể dựa vào lợi thế lao động giá rẻ mãi. Việt Nam sẽ phải đi lên bằng những thế mạnh khác như sản xuất công nghệ cao, trung tâm dữ liệu, bán dẫn, chuỗi cung ứng hiện đại, dịch vụ tài chính, đô thị thông minh và tiêu dùng chất lượng cao. Tất cả những lĩnh vực này đều cần nguồn điện ổn định, giá hợp lý và ngày càng xanh hơn".

Lịch sử phát triển của các nền kinh tế Đông Á, như Nhật Bản, Hàn Quốc cho thấy rõ điều này, không có quốc gia nào leo lên được nấc thang công nghiệp cao mà không có một hệ thống năng lượng đáng tin cậy làm xương sống. "Nếu thiếu điện hoặc giá điện biến động mạnh, nhà đầu tư sẽ phải cộng thêm phần lãi suất rủi ro khi đầu tư vào Việt Nam. Điều đó làm giảm sức cạnh tranh của nền kinh tế. Ngược lại, nếu Việt Nam xây dựng được một hệ thống năng lượng đáng tin cậy, xanh hơn và có khả năng chống chịu trước cú sốc bên ngoài, đây sẽ là lợi thế cạnh tranh rất lớn so với nhiều thị trường mới nổi khác" ông Nguyễn Sơn Tùng phân tích.

Có thể nói ngắn gọn: An ninh năng lượng chính là nền móng cho tăng trưởng năng suất, nâng cấp chuỗi giá trị, và củng cố niềm tin của nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Quốc gia nào bảo đảm tốt an ninh năng lượng, quốc gia đó sẽ nắm lợi thế trong cuộc đua tăng trưởng. Với Việt Nam, đây không còn là câu chuyện của riêng ngành năng lượng, mà là câu chuyện của cả nền kinh tế trong hành trình bước lên nấc thang phát triển mới.

Hương Giang (TTXVN)

Nguồn Tin Tức TTXVN: https://baotintuc.vn/the-gioi/nen-mong-cho-tang-truong-dai-han-va-suc-hut-dau-tu-cua-viet-nam-20260428143126353.htm