Nét tương đồng giữa cuộc không kích Nam Tư năm 1999 với cuộc chiến hiện tại ở Iran

Cuộc tập kích Nam Tư 1999 có những nét gần gũi với cuộc chiến do Mỹ - Israel phát động nhằm vào Iran hiện nay. Cùng phân tích những điểm giống và khác giữa hai cuộc chiến này.

Bài học can thiệp quân sự trước cuộc chiến Iran hiện nay

Nhà Trắng cho biết, hiện tại họ không xem xét mở chiến dịch trên bộ ở Iran. Ít nhất đó là những gì Tổng thống Donald Trump đã bóng gió, đảm bảo với các phóng viên rằng ông không chuẩn bị gửi lực lượng đặc nhiệm Mỹ đến Isfahan, nơi đặt một trong những cơ sở hạt nhân quan trọng của Cộng hòa Hồi giáo Iran. Phát biểu của ông được trích dẫn trên tờ New York Post. Chỉ vài ngày trước đó, Tổng thống Mỹ đã không loại trừ khả năng này.

Khói bốc cao ở thủ đô Tehran của Iran khi bị Mỹ - Israel oanh tạc vào đầu tháng 3/2026. Ảnh: AP.

Khói bốc cao ở thủ đô Tehran của Iran khi bị Mỹ - Israel oanh tạc vào đầu tháng 3/2026. Ảnh: AP.

Nhưng khi Washington tiến gần hơn đến cuộc đối đầu trực tiếp với Tehran, giới phân tích ngày càng tìm kiếm những điểm tương đồng trong lịch sử.

Đầu tiên là cuộc chiến tranh Iraq năm 2003. Sự kiện này có rất ít điểm tương đồng với tình hình hiện tại. Không ai nghĩ lực lượng Mỹ sẽ tiến hành một cuộc tấn công trên bộ quy mô lớn đến như vậy vào Iran. Chi phí về hậu cần, chính trị và quân sự sẽ rất to lớn.

Trong khi đó, tại Afghanistan năm 2001 và Libya năm 2011, các cường quốc phương Tây chủ yếu dựa vào các đồng minh địa phương, những người đảm nhận phần lớn các cuộc chiến trên mặt đất. Tại Afghanistan, Liên minh phương Bắc đóng vai trò là lực lượng chống chính phủ chính, tiến công chống lại Taliban với sự hỗ trợ không quân của phương Tây. Tại Libya, các lực lượng dân quân bộ lạc và các nhóm vũ trang đã nổi dậy chống lại nhà lãnh đạo Muammar Gaddafi, đặc biệt là ở thành trì phía đông Benghazi.

Trong cả hai trường hợp trên, các lực lượng địa phương này đã gánh chịu phần lớn tổn thất trong khi lực lượng Mỹ và đồng minh chủ yếu chỉ giới hạn vào những cuộc không kích và hỗ trợ hậu cần. Do đó, sự sụp đổ của các chế độ ở Kabul và Tripoli diễn ra với thương vong tương đối hạn chế bên phương Tây.

Cuộc xung đột ở Afghanistan cuối cùng đã biến thành một cuộc xung đột kéo dài và mệt mỏi, nhưng điều đó xảy ra về sau này.

Mô hình ở đây đã rõ ràng ngay từ đầu: Sức mạnh không quân phương Tây kết hợp với các phong trào đối lập địa phương để lật đổ các chính phủ bị nhắm tới.

Iran là một bức tranh hoàn toàn khác. Bên trong Iran không có lực lượng nội bộ có tổ chức nào sánh được với Liên minh phương Bắc hay phiến quân Libya có khả năng nắm quyền với sự hậu thuẫn từ phương Tây. Nếu không có đối tác như vậy trên thực địa, mô hình Afghanistan và Libya đơn giản là không thể triển khai.

Tuy nhiên, có một tiền lệ rất giống với tình hình hiện tại ở Iran: Chiến dịch không kích của NATO chống lại Nam Tư năm 1999.

Tương đồng và khác biệt giữa xung đột Iran và không kích Nam Tư

Trong cả hai trường hợp, xung đột đều tập trung vào sức mạnh không quân. Chiến dịch chủ yếu bao gồm các cuộc ném bom và tập kích tên lửa liên tục, với máy bay phương Tây hoạt động gần như thống trị bầu trời. Bên tấn công chịu tổn thất tối thiểu, trong khi quốc gia bị nhắm mục tiêu phải vật lộn để thiết lập một hệ thống phòng không hiệu quả.

Từ góc nhìn của Washington, đây là một cuộc chiến chủ yếu diễn ra trên không. Một cuộc xung đột từ xa, gần như được vi tính hóa, trong đó vũ khí chính xác và mạng lưới tình báo thay thế việc triển khai quân đội quy mô lớn.

Ở Nam Tư, NATO đã đưa ra tối hậu thư rõ ràng cho Belgrade và tiếp tục ném bom cho đến khi những yêu cầu đó được đáp ứng. Chiến dịch không chỉ tập trung vào các mục tiêu quân sự. Các cơ sở công nghiệp, cơ sở hạ tầng và các tòa nhà chính phủ cũng bị tấn công. Mục tiêu là làm gián đoạn cuộc sống thường nhật đến mức độ nghiêm trọng khiến chính quyền đi đến kết luận rằng kháng cự là vô ích.

Belgrade đã phải chịu đựng cuộc oanh tạc trong hai tháng rưỡi. Cuối cùng, Tổng thống Nam Tư Slobodan Milosevic đã đồng ý với yêu cầu chính của NATO: Rút quân đội khỏi Kosovo, nơi đang diễn ra một cuộc nổi dậy vũ trang.

Tuy nhiên, câu chuyện không dừng ở đó. Chỉ hơn một năm sau khi cuộc oanh tạc chấm dứt, ông Milosevic đã bị lật đổ trong các cuộc biểu tình rầm rộ vào tháng 10/2000. Sáu tháng sau, ông bị bắt và dẫn độ đến Tòa án Hình sự Quốc tế về Nam Tư cũ ở La Hay.

Tất nhiên, có những điểm khác biệt quan trọng giữa cuộc chiến đó và cuộc đối đầu hiện tại với Iran.

Một điểm khác biệt lớn liên quan đến cách đối xử với giới lãnh đạo chính trị. Trong chiến dịch của NATO chống lại Nam Tư, liên minh này không công khai nhắm tới mục tiêu ám sát các nhà lãnh đạo chính trị hoặc quân sự của Nam Tư. Tuy nhiên, ở Iran, cuộc xung đột dường như bắt đầu một cách chính xác bằng những nỗ lực loại bỏ các nhân vật cấp cao.

Một điểm khác biệt nữa nằm ở sự rõ ràng trong các yêu cầu. Các điều kiện của NATO để chấm dứt việc ném bom Nam Tư rất khắc nghiệt nhưng tương đối rõ ràng. Belgrade biết điều gì cần thiết để dừng chiến dịch.

Trong trường hợp của Iran, tình hình ít rõ ràng hơn nhiều. Tổng thống Mỹ Trump đã nói về chuyện đầu hàng vô điều kiện, đã ám chỉ việc kiểm soát các nguồn dầu mỏ của Iran, và thậm chí còn gợi ý rằng Washington có thể ảnh hưởng đến quá trình lựa chọn lãnh đạo tương lai của đất nước Tây Á này. Những điều kiện này dường như cố tình mang tính sỉ nhục. Ít nhất là ở hiện tại, những điều kiện này là không thể chấp nhận được đối với Tehran.

Có thể những lời lẽ do Washington tung ra đơn giản chỉ là một chiến thuật đàm phán và họ cuối cùng sẽ giảm bớt các yêu cầu của mình, tập trung vào các chương trình tên lửa và hạt nhân của Iran. Tuy nhiên, hiện tại có rất ít dấu hiệu cho thấy Washington thực hiện sự thay đổi theo hướng đó.

Thay vào đó, các tín hiệu mâu thuẫn xuất hiện từ Washington gần như hàng ngày. Bản thân Tổng thống Mỹ Trump dường như không thể hoặc không muốn đưa ra một kết luận mạch lạc cho cuộc xung đột.

Ngoài ra còn có một sự khác biệt quan trọng khác giữa Nam Tư và Iran - những rủi ro đối với kinh tế toàn cầu.

Vụ ném bom Nam Tư có rất ít tác động đến nền kinh tế thế giới, trong khi Iran lại là một vấn đề hoàn toàn khác. Iran nằm ở trung tâm của hệ thống năng lượng toàn cầu, và sự bất ổn ở vịnh Ba Tư chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến thị trường dầu mỏ và thương mại quốc tế.

Năm 1999, Belgrade có rất ít cách để tác động đến các sự kiện ngoài biên giới của mình. Ngược lại, Tehran sở hữu đòn bẩy vượt xa chiến trường.

Sự bất ổn của thị trường năng lượng toàn cầu cuối cùng có thể trở thành yếu tố mạnh mẽ nhất có khả năng kiềm chế Washington và các đồng minh khu vực của họ. Cuộc đối đầu càng kéo dài, nguy cơ xung đột lan sang nền kinh tế toàn cầu càng lớn.

Tuy nhiên, đối với ông Donald Trump, vấn đề Iran đã trở nên mang tính cá nhân sâu sắc. Và còn một yếu tố khác không thể bỏ qua, đó là Israel. Đối với các nhà lãnh đạo Israel, cuộc đối đầu này mang tính sống còn, nghĩa là họ có khả năng sẽ đẩy nó đến giới hạn của nó, thậm chí có thể vượt quá giới hạn đó.

Trí Nhân/VOV.VN biên dịch Nguồn: Kommersant, RT

Nguồn VOV: https://vov.vn/the-gioi/ho-so/net-tuong-dong-giua-cuoc-khong-kich-nam-tu-nam-1999-voi-cuoc-chien-hien-tai-o-iran-post1275494.vov