Ngân hàng có tỷ trọng cho vay BĐS cao có thể chịu áp lực nợ xấu tăng nhẹ trong năm nay
Tỷ lệ nợ chuyển quá hạn toàn ngành đã tăng khá mạnh trong quý đầu năm, ở mức trên 1%. Trong năm 2026, các ngân hàng có tỷ trọng cho vay BĐS khá cao như Techcombank, VPBank, MB, HDBank được dự báo có thể chịu áp lực nợ xấu gia tăng nhẹ do thị trường BĐS điều chỉnh.
Dự báo nhóm ngân hàng lớn dẫn dắt tăng trưởng lợi nhuận
Thống kê từ báo cáo tài chính của 27 ngân hàng niêm yết cho thấy tổng lợi nhuận trước thuế (LNTT) quý I đạt hơn 94.000 tỷ đồng, tăng gần 14% so với cùng kỳ 2025 và giảm khoảng 5,5% so với quý trước.
Nhóm nhà băng quốc doanh và các nhà băng có lợi thế room tín dụng nhờ tham gia tái cơ cấu ngân hàng yếu kém ghi nhận mức tăng trưởng lợi nhuận tích cực hơn so với mặt bằng chung toàn ngành. Chẳng hạn, VietinBank báo lợi nhuận quý I vượt 11.000 tỷ đồng, tăng 63% so với cùng kỳ. VPBank đạt tăng trưởng lợi nhuận 58%, với LNTT quý vừa qua ở mức 7.921 tỷ đồng...
Tăng trưởng tín dụng ở mức vừa phải (+19% so với cùng kỳ và +3,5% so với đầu năm) dù room tín dụng bị hạn chế và lãi suất cho vay mới tăng cao.
NIM ghi nhận giảm 0,22 điểm % so với cùng kỳ và giảm 0,16 điểm % quý trước về mức 3% do lợi suất cho vay vẫn còn chịu ảnh hưởng bởi các khoản vay ưu đãi lãi suất trong 2024-2025, trong khi lãi suất huy động đã tăng mạnh khoảng 2 điểm % kể từ cuối quý III/2025.

Dự báo cho triển vọng cả năm 2026, Chứng khoán ACB (ACBS) trong một nhận định mới đây đánh giá NIM toàn ngành có thể tiếp tục giảm nhẹ trong năm nay nhưng có sự phân hóa giữa hai nhóm ngân hàng.
Nhóm NHTM quốc doanh có thể ghi nhận NIM tăng 0,23 điểm % từ mức nền thấp 2,5% năm 2025. Nguyên nhân do lãi suất cho vay của nhóm này trong giai đoạn trước đang ở mức rất thấp (5-6%) và đã tăng mạnh khoảng 3% trong quý IV/2025, kéo theo lợi suất tài sản tăng lên trong năm 2026.
Bên cạnh đó, tiền gửi KBNN (chiếm ~7-9% tổng huy động) góp phần giảm áp lực lên lãi suất huy động của nhóm ngân hàng này.
Trên cơ sở NIM cải thiện, Vietcombank và BIDV được kỳ vọng đạt tăng trưởng LNTT 10% so với cùng kỳ. Tại VietinBank, mức tăng trưởng có thể sẽ cao hơn, dự báo khoảng 16% so với cùng kỳ nhờ hoạt động kinh doanh cốt lõi tăng trưởng tốt và chi phí dự phòng được kiểm soát.
Trong khi đó, nhóm NHTM tư nhân dự báo NIM sẽ giảm 0,21 điểm % (loại trừ hoàn nhập lãi dự thu của SACOMBANK) do lãi suất huy động tăng cao, trong khi lãi suất cho vay trước nay vẫn luôn duy trì ở mức cao (7-9%) và không có nhiều dư địa tăng mạnh vì có thể làm giảm nhu cầu tín dụng.
Dưới áp lực giảm NIM, các ngân hàng có thể sẽ nỗ lực kiểm soát chi phí hoạt động để đảm bảo khả năng sinh lời. Trong đó, nhóm các ngân hàng quy mô lớn có khả năng hạn chế tốc độ gia tăng chi phí nhân sự nhờ đã đẩy mạnh đầu tư số hóa trong những năm qua.
ACBS dự báo 4 ngân hàng Vietcombank, MB, VPBank và HDBank được hưởng lợi nhờ được cấp room tín dụng cao do nhận tái cơ cấu ngân hàng yếu kém có thể tiếp tục duy trì tăng trưởng lợi nhuận tích cực nhờ triển vọng tăng trưởng tín dụng ở mức 16-35%.
Riêng SACOMBANK có triển vọng ghi nhận lợi nhuận bất thường từ hoàn nhập dự phòng trái phiếu VAMC và lãi dự thu ngoại bảng, với giả định lô 32,1% cổ phần STB được xử lý trong năm nay.
Ngân hàng có tỷ trọng cho vay BĐS cao có thể chịu áp lực nợ xấu tăng nhẹ
Về chất lượng tài sản toàn ngành, trong quý I/2026, nhóm phân tích ACBS ước tính tỷ lệ nợ chuyển quá hạn đã tăng khá mạnh, ở mức trên 1%. NPL theo đó tăng 0,14 điểm % so với quý trước lên 1,99%, nhưng vẫn ở mức tốt.
Tỷ lệ bao phủ nợ xấu giảm khoảng 4 điểm % về dưới mức 80%. Chất lượng tài sản toàn ngành có tín hiệu suy giảm, đồng pha với diễn tiến lãi suất tăng mạnh và việc NHNN giới hạn room tín dụng BĐS khiến thị trường BĐS chịu áp lực điều chỉnh trong quý.

Nhận định cho các quý còn lại của năm, ACBS đánh giá các ngân hàng có tỷ trọng cho vay BĐS khá cao như Techcombank, VPBank, MB, HDBank có thể chịu áp lực nợ xấu gia tăng nhẹ trong năm do thị trường BĐS điều chỉnh.
Dù vậy, khả năng thị trường BĐS rơi vào khủng hoảng như giai đoạn 2022 - 2023 là rất thấp, nhờ chính sách tháo gỡ pháp lý các dự án tồn đọng của Chính phủ cũng như đẩy mạnh phát triển cơ sở hạ tầng giúp làm tăng giá trị BĐS, bất chấp chính sách tiền tệ chưa ủng hộ thị trường BĐS.
Cùng đó, việc luật hóa Nghị quyết 42/2017 có hiệu lực từ tháng 12/2025 cũng đã cho phép các tổ chức tín dụng được quyền thu giữ và xử lý tài sản đảm bảo (đi kèm một số điều kiện) mà không cần thông qua tòa án. Điều này sẽ làm gia tăng hiệu quả xử lý tài sản đảm bảo và thu hồi nợ xấu của các ngân hàng, như đã được thể hiện trong việc thu hồi tổng cộng 440.000 tỷ đồng nợ xấu trong giai đoạn thí điểm 2017-2023 trước đây.
Ngoài ra, với việc tình hình nợ xấu chưa quá căng thẳng, năm nay các ngân hàng nhìn chung được dự báo có thể kiểm soát chi phí tín dụng ở mức hợp lý để giữ vững lợi nhuận.
Vietcombank, VietinBank và Techcombank nhiều khả năng ít chịu áp lực trích lập dự phòng hơn nhờ bộ đệm dự phòng dày, nhưng chi phí trích lập vẫn có thể tăng cao do mức nền thấp năm 2025. Trong khi đó, VPBank, MB và SACOMBANK có thể vẫn sẽ phải tăng cường trích lập dự phòng để cải thiện bộ đệm dự phòng.
Tương tự góc nhìn của ACBS, PSI trong một nhận định gần đây cũng cho rằng việc NPL 27 ngân hàng niêm yết gần chạm mốc 2% tại cuối quý I/2026 phản ánh chất lượng tài sản của ngành nhìn chung có dấu hiệu suy giảm.
Tốc độ hình thành nợ xấu mới cũng tăng lên, thể hiện qua tỷ lệ nợ nhóm 2 tăng từ 1,17% quý trước lên thành 1,23%. Điều này hàm ý rủi ro tín dụng gia tăng nhanh chóng giữa bối cảnh lãi suất duy trì xu hướng tăng, đặc biệt là đối với những ngân hàng có tỷ trọng cho vay cá nhân, cho vay BĐS, dịch vụ tài chính cao do tính chất nhạy cảm với lãi suất của những nhóm ngành này.
Theo đó, PSI kỳ vọng triển vọng lợi nhuận ngành ngân hàng năm nay sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào khả năng kiểm soát rủi ro tín dụng thay vì tăng trưởng tín dụng đơn thuần, nhất là trong bối cảnh mục tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2026 chỉ khoảng 15%, thấp hơn đáng kể so với mức tăng 19% của năm 2025.
"Các ngân hàng sở hữu chất lượng tài sản tốt, tỷ lệ nợ xấu thấp và khẩu vị rủi ro thận trọng sẽ có lợi thế rõ rệt nhờ duy trì được chi phí dự phòng ở mức hợp lý và hạn chế biến động lợi nhuận.
Ngược lại, các ngân hàng theo đuổi chiến lược tăng trưởng tín dụng cao hoặc tập trung vào các phân khúc có mức độ rủi ro lớn như cho vay tiêu dùng, BĐS hoặc khách hàng SME có thể đối mặt với áp lực gia tăng nợ xấu và chi phí trích lập dự phòng trong bối cảnh lãi suất cao kéo dài", PSI đánh giá.










