Ngân hàng được nới vốn cho vay dài hạn từ 1.7: Người vay có dễ tiếp cận tiền hơn?
Từ ngày 1.7, các ngân hàng thương mại sẽ được sử dụng tối đa 40% nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn, thay vì mức 30% áp dụng từ năm 2023.
Quy định mới được kỳ vọng giúp khơi thông dòng vốn cho nền kinh tế, đặc biệt là các lĩnh vực cần nguồn vốn dài hạn như hạ tầng, sản xuất và nhà ở. Tuy nhiên, liệu người dân và doanh nghiệp có dễ tiếp cận vốn vay hơn?

Từ ngày 1.7, các ngân hàng thương mại sẽ được sử dụng tối đa 40% nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn. Ảnh minh họa
Mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn
Theo Thông tư số 25/2026/TT-NHNN ngày 22.6.2026 của Ngân hàng Nhà nước có hiệu lực từ 1.7.2026, tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn được nâng từ 30% lên 40%.
Đây là bước điều chỉnh đáng chú ý bởi trong gần một thập kỷ qua, cơ quan quản lý liên tục siết tỷ lệ này nhằm hạn chế rủi ro mất cân đối kỳ hạn trong hệ thống ngân hàng. Từ mức 40%, tỷ lệ lần lượt giảm xuống 37%, 34% và còn 30% từ tháng 10.2023.
Việc nới trần diễn ra trong bối cảnh nền kinh tế bước vào giai đoạn tăng tốc đầu tư với hàng loạt dự án hạ tầng giao thông, năng lượng, khu công nghiệp, nhà ở xã hội và sản xuất công nghiệp cần lượng vốn trung và dài hạn rất lớn.
Các chuyên gia ước tính, theo số liệu từ Ngân hàng Nhà nước tính đến cuối tháng 3.2026, với tổng tiền gửi toàn hệ thống hiện khoảng 16,6 triệu tỉ đồng, việc nâng tỷ lệ thêm 10 điểm phần trăm có thể tạo thêm dư địa lý thuyết khoảng 1,3-1,5 triệu tỉ đồng cho các khoản vay trung và dài hạn.
Một lợi ích khác là giúp giảm áp lực huy động vốn dài hạn của các ngân hàng. Trước đây, để đáp ứng các tỷ lệ an toàn, nhiều ngân hàng phải tăng huy động vốn kỳ hạn dài hoặc phát hành chứng chỉ tiền gửi với lãi suất cao, làm gia tăng chi phí vốn.
Khi được phép sử dụng nhiều hơn nguồn vốn ngắn hạn có chi phí thấp hơn để cho vay dài hạn, áp lực huy động sẽ giảm bớt, tạo thêm dư địa để các ngân hàng duy trì mặt bằng lãi suất cho vay ở mức hợp lý.
Tuy nhiên, việc nới tỷ lệ cũng đi kèm rủi ro. Khi sử dụng nhiều vốn ngắn hạn hơn để cho vay dài hạn, mức độ lệch pha kỳ hạn giữa nguồn vốn huy động và các khoản cho vay sẽ tăng lên. Nếu xuất hiện cú sốc thanh khoản hoặc lãi suất tăng mạnh, áp lực đối với hệ thống ngân hàng cũng sẽ lớn hơn.
Người dân và doanh nghiệp được hưởng lợi thế nào?
Nhóm được hưởng lợi rõ nhất là các doanh nghiệp cần nguồn vốn đầu tư dài hạn.
Các dự án hạ tầng giao thông, năng lượng, logistics, khu công nghiệp hay các doanh nghiệp mở rộng nhà máy thường cần các khoản vay từ 5-20 năm. Khi ngân hàng có thêm dư địa cho vay, khả năng tiếp cận vốn của nhóm này sẽ thuận lợi hơn.
Đối với người dân, tác động dễ nhận thấy nhất nằm ở thị trường vay mua nhà.
Các khoản vay mua nhà thường có thời hạn từ 15-25 năm, thuộc nhóm tín dụng trung và dài hạn. Việc nâng tỷ lệ lên 40% giúp giảm áp lực về nguồn vốn, tạo điều kiện để các ngân hàng tiếp tục mở rộng cho vay mua nhà, sửa chữa nhà ở hoặc phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh dài hạn.
Ngoài ra, việc giảm áp lực chi phí vốn cũng có thể hỗ trợ mặt bằng lãi suất cho vay. Dù vậy, giới chuyên gia cho rằng khó kỳ vọng lãi suất sẽ giảm mạnh bởi còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như lạm phát, nhu cầu tín dụng và diễn biến thị trường tiền tệ.
Điều quan trọng là người vay không nên hiểu rằng từ ngày 1.7 việc vay vốn sẽ trở nên dễ dàng hơn ngay lập tức.
Ngân hàng vẫn phải thực hiện đầy đủ các bước thẩm định về thu nhập, khả năng trả nợ, tài sản bảo đảm và lịch sử tín dụng của khách hàng. Quy định mới chủ yếu giúp các ngân hàng có thêm nguồn lực để cho vay chứ không làm thay đổi các tiêu chuẩn xét duyệt tín dụng.
Nói cách khác, việc nới tỷ lệ giúp mở rộng cánh cửa tín dụng cho nền kinh tế. Người dân và doanh nghiệp sẽ có thêm cơ hội tiếp cận các khoản vay trung và dài hạn, đặc biệt trong lĩnh vực nhà ở và đầu tư sản xuất.
Tuy nhiên, khả năng được giải ngân vẫn phụ thuộc vào năng lực tài chính của người vay và tiêu chuẩn quản trị rủi ro của từng ngân hàng.












