Ngân hàng lãi hàng tỉ USD sẽ đối mặt áp lực vốn và tỷ lệ an toàn?
Ngành ngân hàng trong năm 2025 đã đạt tăng trưởng lợi nhuận tích cực. Ngày càng có nhiều ngân hàng có lợi nhuận sau thuế vượt mức 1 tỉ USD. Tuy nhiên, áp lực đối với ngành cũng song hành cả cũ và mới, đó là áp lực vốn và tỷ lệ an toàn.
Lợi nhuận ngành ngân hàng tăng trưởng nổi bật...
Báo cáo của SSI Research cho biết, lợi nhuận trước thuế (LNTT) của các ngân hàng trong phạm vi nghiên cứu tăng 20% so với cùng kỳ năm trước, vượt 10% so với kỳ vọng. Động lực chính đến từ các ngân hàng Vietinbank (CTG), Techcombank (TCB) và MBank (MBB), nhờ chi phí dự phòng giảm và thu nhập ngoài lãi (NFI) cải thiện. Tín dụng tiếp tục đóng vai trò dẫn dắt, với dư nợ cho vay tăng khoảng 20% so với cùng kỳ, kéo theo thu nhập lãi thuần (NII) tăng 18%. Sự phục hồi của NFI cùng việc kiểm soát chi phí hoạt động (tăng 10% so với cùng kỳ) tiếp tục củng cố khả năng sinh lời.
Dòng tín dụng dịch chuyển theo chuỗi giá trị bất động sản sau giai đoạn tập trung vào cho vay chủ đầu tư đang dần chuyển sang các khâu xây dựng và triển khai dự án. Trong khi đó, nhu cầu vay mua nhà của người dùng cuối vẫn chịu áp lực từ mặt bằng lãi suất cao.
Ngân hàng Việt Nam nổi bật trong bức tranh các thị trường mới nổi
Với kết quả kinh doanh quý I/2026, các ngân hàng trong danh sách nghiên cứu của SSI research đã hoàn thành khoảng 23% dự báo hiện tại. Từ đó, ước tính năm 2026, tăng trưởng lợi nhuận trước thuế của các ngân hàng tăng khoảng 17% so với cùng kỳ và ROE (tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu) tăng xấp xỉ 18%.
Theo SSI Research
nhưng biên lãi ròng tăng và chất lượng tài sản suy yếu
Một yếu tố quan trọng được ghi nhận là áp lực lên NIM (biên lãi ròng) quay trở lại. NIM các ngân hàng trong danh sách nghiên cứu giảm xuống 3,04% (giảm 20 điểm cơ bản theo quý, và giảm 11 điểm cơ bản so với cùng kỳ) do chi phí vốn tăng. Theo SSI Research, trong thời gian tới, NIM được dự báo sẽ tiếp tục là yếu tố kìm hãm đà tăng trưởng lợi nhuận của các ngân hàng khi chi phí huy động vốn vẫn duy trì ở mức cao và dư địa tối ưu chi phí không còn nhiều.

ngân hàng lợi nhuận-1
Một yếu tố đáng quan tâm nữa là chất lượng tài sản của ngân hàng suy yếu theo quý nhưng vẫn trong tầm kiểm soát. Tỷ lệ nợ xấu (NPL) tăng lên 1,88% từ mức 1,76% trong quý IV/2025, song vẫn thấp hơn mức 2,0% của quý I/2025. Xu hướng tương tự cũng ghi nhận ở nhóm nợ xấu (nhóm 2). Đây là diễn biến quen thuộc sau giai đoạn “làm sạch” bảng cân đối vào cuối năm, tiếp đến là sự bình thường hóa trong quý I, đồng thời phản ánh độ trễ trong việc ghi nhận các áp lực rủi ro tiềm ẩn.

Áp lực vốn và quy định mới về các tỷ lệ an toàn
Tỷ lệ cho vay trên vốn huy động của toàn hệ thống ở mức gần 112% vào cuối tháng 3/2026, cho thấy áp lực vốn dai dẳng. Các biện pháp bơm tiền qua nghiệp vụ thị trường mở (OMO) và nâng trần tiền gửi Kho bạc Nhà nước đã giúp ổn định tình hình, nhưng chưa hoàn toàn giải quyết được vấn đề. Ngân hàng Nhà nước duy trì mục tiêu tăng trưởng tín dụng khoảng 15% năm 2026, ưu tiên lĩnh vực sản xuất, hạ tầng và các ngành ưu tiên, đồng thời siết chặt kiểm soát đối với tín dụng bất động sản.
Ngành ngân hàng dự kiến sẽ phải thực hiện theo quy định mới (đang dự thảo) sẽ được ban hành thay thế Thông tư 22/2019/TT-NHNN với mục tiêu nhằm thắt chặt các quy chuẩn an toàn và tiệm cận dần với chuẩn mực quốc tế Basel III.
Theo quy định mới được dự kiến, các ngân hàng thay vì tuân thủ theo tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) sẽ chuyên sang tỷ lệ dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn (CDR). Quy định mới nhằm phản ánh chính xác hơn tình trạng thanh khoản thực tế của ngân hàng (ngoài dư nợ cho vay còn có chiết khấu giấy tờ có giá, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng, thấu chi và các khoản đầu tư vào trái phiếu doanh nghiệp). Mức trần của CDR dự kiến vẫn ở mức 85% như mức đã quy định tại Thông tư 22.
Bên cạnh đó, ngân hàng chỉ được tính 20% tiền gửi có kỳ hạn tại Kho bạc Nhà nước, loại trừ trái phiếu do ngân hàng khác nắm giữ khỏi mẫu số. Dư nợ tín dụng được tính ròng sau khi đã trừ phần tài trợ bằng vốn chủ sở hữu.

Về tỷ lệ đảm bảo khả năng thanh khoản (LCR), các ngân hàng sẽ phải áp dụng theo chuẩn Basel III với tài sản thanh khoản chất lượng cao (HQLA) gồm Level 1/2A/2B; dòng tiền ra (cho vay, thanh khoản…) bị khống chế tối đa bằng 75% dòng tiền vào; nguồn vốn bán buôn không mang tính hoạt động có hệ số rút vốn 40–100%.
Trong khi đó, đối với nguồn vốn ổn định sẵn có (ASF, đơn cử như nguồn tiền gửi từ người dân), ngân hàng được phép tính 90-95% số tiền này vào chỉ số NSFR (tỷ lệ nguồn vốn ổn định ròng). Tuy nhiên, tiền gửi doanh nghiệp kỳ hạn dưới 1 năm chỉ được tính 50% nhằm khuyến khích cơ cấu nguồn vốn chi tiết hơn và kỳ hạn dài hơn.
Về chỉ số LEV (tỷ lệ đòn bẩy), ngân hàng phải bảo đảm vốn cấp 1/tổng tài sản có rủi ro (bao gồm ngoại bảng) lớn hơn hoặc bằng 3% nhằm ngăn chặn việc ngân hàng sử dụng đòn bẩy quá cao để chạy theo lợi nhuận, dẫn đến nguy cơ bất ổn khi thị trường biến động.
CDR là ràng buộc chính
Theo đánh giá của SSI Research, về dài hạn, những quy định mới là cải cách tích cực. Các tiêu chuẩn LCR, NSFR và LEV giúp hệ thống ngân hàng Việt Nam tiệm cận thông lệ Basel III trong khu vực, đồng thời siết chặt kỷ luật thanh khoản.
Tuy nhiên về ngắn hạn, rủi ro đến từ CDR. Trần 85% vẫn được duy trì trong giai đoạn chuyển tiếp 2028-2031 (trừ khi các ngân hàng đã đạt LCR và NSFR lớn hơn hoặc bằng 100%), tạo ra một “lớp ràng buộc cứng” chồng lên các chỉ tiêu vốn dĩ đã được tính toán dựa trên các mức độ rủi ro khác nhau.
Trong khi đó, tác động từ nới lỏng tiền gửi Kho bạc tương đối hạn chế, chỉ tương đương tăng khoảng 0,6% tổng dư nợ tín dụng toàn hệ thống. Tuy nhiên, tác động này sẽ lớn hơn đôi chút đối với nhóm ngân hàng quốc doanh (từ tăng 1,4% đến 2,0%).
Cũng theo SSI Research, Trung Quốc đã bãi bỏ trần LDR 75% vào năm 2015 khi triển khai các chỉ số về thanh khoản theo chuẩn Basel (giai đoạn 2014–2017). Các quốc gia như Thái Lan, Malaysia, Indonesia và Ấn Độ cũng áp dụng lộ trình chuyển đổi trong nhiều năm.
So sánh với các quốc gia trong khu vực thị trường mới nổi (EM), các ngân hàng Việt Nam nổi bật về sinh lời nhưng đi kèm mức định giá tương đối cao hơn. Mức ROE của Việt Nam cao nhất khu vực EM châu Á (khoảng 18%), với P/B (tỷ lệ giữa thị giá cổ phiếu và giá trị sổ sách của cổ phiếu đó) khoảng 1,7x. Mức này cao hơn chút so với Ấn Độ (1,6x với ROE khoảng 14%) và Indonesia (1,3x với ROE khoảng 17%).











