Ngân hàng phải cung cấp thông tin gì từ tài khoản người nộp thuế cho cơ quan thuế?

Các tổ chức tín dụng, trung gian thanh toán phải cung cấp các thông tin về tài khoản người nộp thuế cho cơ quan thuế, bao gồm: tên chủ tài khoản, số hiệu tài khoản theo mã số thuế và các thông tin về dữ liệu liên quan đến giao dịch của người nộp thuế.

Hiện nay, tại điểm b, Khoản 2 Điều 20 Luật quản lý thuế năm 2025 quy định: Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán phải định kỳ cung cấp thông tin về số hiệu tài khoản thanh toán theo mã số thuế của người nộp thuế khi mở, đóng tài khoản thanh toán tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán được mở tài khoản thanh toán.

Hướng dẫn việc cung cấp thông tin này, Nghị định số 252/2026/NĐ-CP vừa được Chính phủ ban hành đã quy định chi tiết các nội dung mà các tổ chức này phải cung cấp thông tin cho cơ quan thuế.

Theo đó, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán phải định kỳ cung cấp các thông tin về tài khoản thanh toán của người nộp thuế bao gồm: tên chủ tài khoản, số hiệu tài khoản theo mã số thuế đã được cơ quan quản lý thuế cấp, nơi mở tài khoản, cụ thể đến chi nhánh mở tài khoản (nếu có), ngày mở tài khoản, ngày đóng tài khoản.

Các nội dung thông tin trên sẽ phải cung cấp cho cơ quan thuế bằng phương thức điện tử chậm nhất vào ngày 10 của tháng kế tiếp.

Các tổ chức tín dụng, tổ chức trung gian thanh toán phải phối hợp cung cấp thông tin về tài khoản người nộp thuế cho cơ quan thuế (Ảnh minh họa)

Cùng với đó các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán cũng phải cung cấp thông tin, dữ liệu liên quan đến giao dịch của người nộp thuế.

Các thông tin này bao gồm: số lượng, giá trị giao dịch, nội dung giao dịch, thông tin bên chuyển và bên nhận của giao dịch, thông tin về giao dịch trong và giao dịch xuyên biên giới của người nộp thuế; số dư tài khoản, số dư cuối kỳ, thu nhập phát sinh từ tài khoản và các thông tin khác theo quy định của Luật Quản lý thuế và phù hợp với pháp luật về các tổ chức tín dụng, pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân và pháp luật có liên quan phục vụ trực tiếp công tác quản lý thuế.

Không chỉ vậy, các tổ chức này còn phải cung cấp thông tin, dữ liệu về chủ sở hữu hưởng lợi, người được ủy quyền, đồng chủ tài khoản, người thụ hưởng và các bên liên quan; Thông tin về các giao dịch bất thường, đáng ngờ theo quy định của pháp luật về phòng chống rửa tiền; Thông tin theo tiêu chuẩn báo cáo thông tin tài khoản tài chính của đối tượng không cư trú thuế tại Việt Nam và các báo cáo khác phù hợp với tiêu chuẩn của Diễn đàn toàn cầu về minh bạch và trao đổi thông tin cho mục đích thuế.

Ngoài ra, Nghị định 252 cũng quy định: Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán, tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán trực tuyến (nếu có), tổ chức thẻ quốc tế có trách nhiệm cung cấp các thông tin về tài khoản thanh toán của người nộp thuế mở tại ngân hàng cho cơ quan quản lý thuế và phối hợp với cơ quan quản lý thuế khi phát hiện các trường hợp có giao dịch bất thường cần kiểm tra tình trạng tuân thủ thuế.

Nghị định nêu rõ, tổ chức cung cấp thông tin, dữ liệu không phải chịu trách nhiệm về việc sử dụng thông tin, dữ liệu sau khi đã cung cấp đúng quy định của pháp luật. Việc khai thác, sử dụng thông tin, dữ liệu phải được ghi nhận, giám sát và kiểm tra theo quy định.

Hà Loan

Nguồn ANTĐ: https://anninhthudo.vn/ngan-hang-phai-cung-cap-thong-tin-gi-tu-tai-khoan-nguoi-nop-thue-cho-co-quan-thue-post658492.antd