Ngành điều trước ngã rẽ mới

Xuất khẩu điều năm 2025 tiến sát 5 tỷ USD, vượt mục tiêu đề ra. Năm 2026, ngành điều đứng trước cơ hội lớn nhưng cần giải bài toán nguyên liệu và nâng giá trị chế biến.

Công nghệ tạo bước ngoặt

Năm 2025 khép lại với một dấu mốc đáng chú ý đối với ngành điều Việt Nam khi kim ngạch xuất khẩu ước tiến sát mốc 5 tỷ USD, vượt xa mục tiêu ban đầu 4,5 tỷ USD, đồng thời mở ra kỳ vọng mới cho năm 2026 với mục tiêu nâng cao giá trị sản phẩm, giảm phụ thuộc nguyên liệu và hướng tới phát triển bền vững. Đây không chỉ là thành quả của doanh nghiệp mà còn là kết quả tổng hòa từ điều hành chính sách, cải thiện quy trình sản xuất, đầu tư công nghệ và sự thích ứng của thị trường trong bối cảnh biến động thương mại toàn cầu.

Năm 2025, xuất khẩu điều tiến sát mốc 5 tỷ USD. Ảnh minh họa

Năm 2025, xuất khẩu điều tiến sát mốc 5 tỷ USD. Ảnh minh họa

Ông Đặng Hoàng Giang, Tổng Thư ký Hiệp hội Điều Việt Nam (VINACAS), đánh giá kết quả tăng trưởng xuất khẩu điều năm 2025 đã thể hiện rõ nỗ lực chuyển đổi của ngành từ một lĩnh vực nông sản gắn với mục tiêu xóa đói giảm nghèo trở thành ngành hàng nghìn tỷ USD, có mặt tại hơn 90 quốc gia và vùng lãnh thổ. “Xuất khẩu vượt kế hoạch, đơn hàng duy trì tốt, giá trị gia tăng cải thiện, đó là nền tảng để ngành điều bước vào năm 2026 với tâm thế chủ động hơn”, ông Đặng Hoàng Giang nói.

Nếu nhìn lại quá trình phát triển, công nghệ chính là yếu tố quyết định đưa ngành điều Việt Nam lên bản đồ chế biến của thế giới. Trước năm 2010, ngành chế biến điều phụ thuộc lớn vào lao động thủ công, năng suất thấp, chi phí cao. Khi VINACAS triển khai đề án chế tạo máy tự động tách vỏ và bóc lụa từ năm 2008 và đưa vào vận hành năm 2010, toàn ngành đã bước sang giai đoạn mới: Năng suất tăng mạnh, thất thoát giảm, chất lượng sản phẩm ổn định hơn, đáp ứng tốt tiêu chuẩn an toàn thực phẩm quốc tế.

Nhờ cơ giới hóa, hạt điều Việt Nam trở thành sản phẩm có sức cạnh tranh toàn cầu, đặc biệt tại các thị trường khó tính như Mỹ, EU, Nhật Bản. Tuy nhiên, vấn đề cốt lõi hiện nay không còn nằm ở chế biến, mà ở nguồn cung nguyên liệu. Việt Nam mỗi năm cần hơn 2 triệu tấn điều thô cho chế biến, nhưng nguồn nguyên liệu trong nước chỉ đáp ứng khoảng 10%. Phần còn lại phải nhập khẩu, chủ yếu từ châu Phi (chiếm khoảng 70%).

Sự phụ thuộc này khiến ngành điều đối diện rủi ro lớn khi chính sách các nước xuất khẩu thay đổi. Năm 2024, Bờ Biển Ngà, quốc gia cung cấp điều thô lớn nhất thế giới, bất ngờ dừng xuất khẩu đầu vụ để ưu tiên thị trường nội địa. Ngay lập tức, doanh nghiệp Việt Nam gặp khó trong thu mua, chi phí tăng, nhiều hợp đồng phải điều chỉnh tiến độ.

Khoảng 5 năm gần đây, nhiều nước châu Phi đã chuyển từ xuất khẩu điều thô sang đầu tư chế biến sâu để tăng giá trị sản phẩm. Với 70% quy trình chế biến có thể thực hiện bằng máy móc, các quốc gia này nhanh chóng nắm bắt và sản xuất được phần lớn công đoạn. Riêng 30% công đoạn thủ công đòi hỏi kỹ năng cao, họ vẫn chuyển về Việt Nam gia công.

Thực tế, Việt Nam đang dần trở thành nơi hoàn thiện sản phẩm điều cho châu Phi trước khi xuất khẩu. Nhờ đó, họ không cần mở rộng nhà máy, nhưng sản lượng nhân điều chế biến lại tăng nhanh. Theo Cục Hải quan, lượng nhân điều nhập từ châu Phi vào Việt Nam đã tăng từ vài chục nghìn tấn năm 2020 lên 150.000 tấn chỉ trong 11 tháng năm 2025, tương đương 700.000 tấn điều thô, vượt xa sản lượng nội địa của Việt Nam (khoảng 400.000 tấn). Nếu xu hướng này tiếp tục, châu Phi hoàn toàn có thể hoàn thiện toàn bộ chuỗi sản xuất và xuất khẩu trực tiếp, khiến ngành điều Việt Nam đánh mất lợi thế, ảnh hưởng đến tăng trưởng nông nghiệp và kinh tế.

Năm 2026 - mục tiêu không chỉ là tăng lượng

Bước sang năm 2026, bức tranh thị trường được đánh giá sáng sủa hơn. Mỹ, thị trường lớn nhất của hạt điều Việt Nam miễn thuế đối ứng với mặt hàng điều nhân sơ chế, giúp doanh nghiệp kỳ vọng doanh thu từ thị trường này phục hồi mạnh.

Ông Phùng Văn Sâm, Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Tập đoàn Hanfimex cho biết, lợi thế hiện tại là giá bán hạt điều Việt Nam thấp hơn 5% so với hạnh nhân, óc chó, hạt dẻ cười, trong khi thu nhập người tiêu dùng toàn cầu đang có xu hướng thắt lại. Điều này mở ra cơ hội mở rộng nhu cầu tiêu thụ. Tuy nhiên, ông Sâm cũng thẳng thắn, giá bán có thể giảm trong năm 2026 do nguồn cung toàn cầu dồi dào, doanh nghiệp buộc phải nâng chất lượng, tiêu chuẩn sản phẩm và đa dạng hóa hàng chế biến sâu.

Dù vậy, nguyên liệu tiếp tục là thách thức. Châu Phi, nơi cung cấp hơn 70% lượng điều thô Việt Nam nhập khẩu đang tăng cường siết xuất khẩu để giữ giá trị trong nước. “Nếu họ hoàn thiện toàn bộ chuỗi sản xuất, Việt Nam sẽ không còn lợi thế; thậm chí mất vai trò trung tâm chế biến thế giới”, ông Bạch Khánh Nhựt, Phó Chủ tịch Thường trực VINACAS cảnh báo.

Trước bối cảnh trên, VINACAS đưa ra loạt kiến nghị đến Chính phủ và các Bộ, ngành, địa phương xem xét áp thuế nhập khẩu điều nhân, thay vì miễn hoàn toàn, nhằm giảm phụ thuộc tái chế; thiết lập mức giá nhập khẩu tối thiểu, tương tự mô hình Ấn Độ đã áp dụng để bảo vệ sản xuất nội địa; tăng hàng rào kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng, chỉ cho phép nhập khẩu nguyên liệu đạt chuẩn. Các đề xuất này hướng tới mục tiêu lớn nhất đó là giữ nguồn nguyên liệu chất lượng cho doanh nghiệp trong nước, hạn chế nguy cơ Việt Nam thành “công xưởng gia công điều nhân” cho thế giới.

Bài toán phát triển vùng nguyên liệu cũng được đặt lên hàng đầu. Hiện diện tích điều trong nước đã thu hẹp do cạnh tranh với các loại cây trồng khác. VINACAS kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường xây dựng chương trình khôi phục và mở rộng vùng trồng, nhất là tại Tây Nguyên và Đông Nam Bộ; đồng thời nghiên cứu giống điều năng suất cao, thay thế vườn già cỗi. Việc tái canh điều, theo ông Nhựt, nên được triển khai tương tự chương trình tái canh cà phê, có hỗ trợ vốn, kỹ thuật, cơ chế khuyến khích.

Với sự đồng thuận chính sách, cộng hưởng nỗ lực doanh nghiệp và ứng dụng công nghệ trong toàn chuỗi, ngành điều Việt Nam có thể tiến xa hơn hiện nay, không chỉ dẫn đầu thế giới về sản lượng chế biến mà còn bứt phá về giá trị, xây dựng thương hiệu quốc gia thay vì bán nguyên liệu hay gia công.

Ngăn nguy cơ thành “công xưởng gia công”, giá trị ngành điều Việt Nam phải nằm ở khâu chế biến sâu, sản phẩm cao cấp, thương hiệu Việt xuất hiện trên kệ siêu thị quốc tế như một tên gọi uy tín. Đây mới là mục tiêu ngành điều năm 2026 và xa hơn.

Nguyễn Hạnh

Nguồn Công Thương: https://congthuong.vn/nganh-dieu-truoc-nga-re-moi-437380.html