Ngành gỗ Việt Nam thích ứng với yêu cầu phát triển bền vững

Tuân thủ các yêu cầu về phát triển bền vững không còn là lựa chọn mà là điều kiện bắt buộc để đồ gỗ và sản phẩm từ gỗ Việt Nam duy trì vị thế trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Đây là nội dung được các chuyên gia chia sẻ tại Hội thảo "Tiêu dùng gỗ, biến đổi khí hậu và yêu cầu không gây mất rừng" do Hội Gỗ Xây dựng TP. Hồ Chí Minh phối hợp với Tổ chức Forest Trends tổ chức ngày 29/1.

Ông Võ Quang Hà, Chủ tịch Hội Gỗ xây dựng TP. Hồ Chí Minh phát biểu tại hội thảo. Ảnh: Xuân Anh - TTXVN

Ông Võ Quang Hà, Chủ tịch Hội Gỗ xây dựng TP. Hồ Chí Minh phát biểu tại hội thảo. Ảnh: Xuân Anh - TTXVN

Ông Võ Quang Hà, Chủ tịch Hội Gỗ xây dựng TP. Hồ Chí Minh cho biết, trong tổng số hơn 17 tỷ USD xuất khẩu gỗ và sản phẩm từ gỗ, nhóm nguyên liệu và ván xẻ chiếm khoảng 4 - 5 tỷ USD, còn lại là xuất khẩu đồ gỗ và sản phẩm nội thất. Điều này cho thấy dư địa tạo giá trị gia tăng từ ngành gỗ vẫn còn rất lớn. Tuy nhiên, nhu cầu tăng trưởng xuất khẩu phải gắn liền với quản lý, sử dụng rừng một cách có trách nhiệm và có tầm nhìn dài hạn. Muốn làm được điều đó, trước hết phải có định hướng chính sách rõ ràng, tạo ra cơ chế và công năng phù hợp để các bên cùng tham gia.

Để nâng cao giá trị gia tăng, phát triển trồng rừng gỗ lớn là hướng đi đặc biệt quan trọng. Cây gỗ lớn mang lại lợi ích cao hơn cho người trồng rừng, giá trị kinh tế lớn hơn và thời gian hấp thụ carbon dài hơn, qua đó góp phần ứng phó với biến đổi khí hậu. Thay vì khai thác sớm để làm ván dăm, ván ghép giá trị thấp, cần khuyến khích giữ rừng lâu hơn để phục vụ chế biến sâu. Thực tế cho thấy, từ phần gỗ còn lại sau khai thác có thể tận dụng để sản xuất các sản phẩm ghép, gỗ kỹ thuật. Thậm chí, nhiều dòng gỗ rừng trồng của Việt Nam hoàn toàn có thể chế biến thành vật liệu xây dựng, thay thế một số vật liệu truyền thống. Trên thế giới, gỗ kỹ thuật đã được sử dụng để xây dựng nhà cao tầng, các công trình lớn và thân thiện với môi trường. Vấn đề đặt ra là cần sự chung tay của tất cả các chủ thể: Nhà nước, doanh nghiệp, người trồng rừng và các bên liên quan, để xây dựng một ngành lâm nghiệp và chế biến gỗ phát triển bền vững, vừa phát triển kinh tế vừa bảo vệ môi trường.

Quang cảnh hội thảo. Ảnh: Xuân Anh - TTXVN

Quang cảnh hội thảo. Ảnh: Xuân Anh - TTXVN

Tiến sĩ Tô Xuân Phúc, Giám đốc điều hành Chương trình Chính sách thương mại lâm sản Forest Trends phân tích, thị trường đồ gỗ thế giới đang chuyển dịch mạnh từ cách tiếp cận tự nguyện sang bắt buộc về tính hợp pháp và bền vững. Nếu giai đoạn những năm 1990–2000, các cơ chế chứng chỉ tự nguyện như Chứng chỉ FSC (Hội đồng Quản lý Rừng) và PEFC (Chương trình Chứng nhận Chứng chỉ Rừng) được xem là công cụ chính để bảo đảm tính bền vững về môi trường, xã hội và kinh tế, thì từ sau năm 2000, các thị trường tiêu thụ lớn đã áp dụng hàng loạt quy định pháp lý bắt buộc nhằm ngăn chặn gỗ bất hợp pháp, như Hiệp định Đối tác Tự nguyện về Thực thi Luật Lâm nghiệp, Quản trị rừng và Thương mại gỗ (FLEGT VPA) của EU, Đạo luật Lacey (Lacey Act) của Hoa Kỳ hay AILPA của Australia.

Từ thập niên 2010 đến nay, yêu cầu của thị trường tiếp tục được nâng lên. Tính hợp pháp được coi là điều kiện cần nhưng chưa đủ; người tiêu dùng và các nhà nhập khẩu ngày càng chú trọng tới yếu tố bền vững toàn diện, bao gồm chuỗi cung không mất rừng, tôn trọng quyền của cộng đồng bản địa, tiêu chuẩn lao động, cũng như đóng góp vào mục tiêu giảm phát thải và ứng phó biến đổi khí hậu. Nhiều tập đoàn lớn đã công bố cam kết chỉ sử dụng sản phẩm gỗ bền vững, minh bạch chuỗi cung ứng và hướng tới mục tiêu không phá rừng "zero deforestation"

Các thị trường chủ lực của đồ gỗ Việt Nam áp dụng mức độ yêu cầu khác nhau nhưng xu hướng chung là ngày càng chặt chẽ. Hoa Kỳ - thị trường chiếm trên 50% kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam đặc biệt quan tâm đến nguồn gốc hợp pháp của gỗ nguyên liệu và nguy cơ liên quan đến nhập khẩu gỗ rủi ro. EU tuy chỉ chiếm khoảng 4% kim ngạch nhưng lại dẫn đầu về các quy định mới, điển hình là Quy định chống mất rừng EUDR (2023), yêu cầu truy xuất nguồn gốc rõ ràng và chứng minh không gây mất rừng; phần lớn sản phẩm xuất khẩu sang EU hiện đã có chứng chỉ FSC, PEFC nên khả năng đáp ứng được đánh giá là khả thi.

Trong khi đó, Trung Quốc vẫn là thị trường tương đối ổn định với yêu cầu thấp hơn, chủ yếu nhập khẩu dăm gỗ. Nhật Bản và Hàn Quốc tập trung vào viên nén, dăm gỗ và ván ép, nhu cầu vẫn hiện hữu nhưng đang siết chặt hơn các tiêu chí về hợp pháp và tác động khí hậu. Xu hướng chung cho thấy thương mại và nhập khẩu đang trở thành công cụ quan trọng để các quốc gia tiêu thụ tác động ngược trở lại cách thức quản trị rừng và chuỗi cung ứng tại các nước sản xuất như Việt Nam

Các đại biểu tham dự hội thảo. Ảnh: Xuân Anh - TTXVN

Các đại biểu tham dự hội thảo. Ảnh: Xuân Anh - TTXVN

Theo Tiến sĩ Tô Xuân Phúc, với hơn 1,1 triệu hộ trồng rừng, diện tích phân tán, chuỗi cung ứng nhiều tầng nấc trung gian và còn tồn tại tình trạng thiếu giấy chứng nhận, tranh chấp đất đai, truy xuất nguồn gốc hạn chế, ngành gỗ Việt Nam cần có cách tiếp cận tổng thể hơn để thích ứng với yêu cầu mới của thị trường. Giải pháp được khuyến nghị là thúc đẩy quản lý rừng bền vững gắn với sinh kế của người trồng rừng, hỗ trợ nông hộ nhỏ không bị loại khỏi chuỗi cung ứng toàn cầu, đồng thời mở rộng diện tích rừng có chứng chỉ FSC, PEFC. Bên cạnh đó, cần tăng cường minh bạch chuỗi cung, giảm phụ thuộc vào nguồn gỗ nhập khẩu rủi ro để hạn chế tác động tiêu cực đến xuất khẩu sang các thị trường khó tính.

Ở góc độ chính sách, vai trò dẫn dắt của Nhà nước được nhấn mạnh thông qua chính sách mua sắm công ưu tiên sản phẩm gỗ hợp pháp, bền vững. Cách tiếp cận này không chỉ giúp giảm rủi ro thương mại, tạo dư địa cho xuất khẩu mà còn thúc đẩy thị trường nội địa và mang lại tác động tích cực đến sinh kế của người trồng rừng. Song song đó, khu vực tư nhân được kỳ vọng chủ động tham gia, thúc đẩy sáng kiến và thực thi các cam kết bền vững nhằm đáp ứng xu thế tiêu dùng toàn cầu đang thay đổi nhanh chóng.

Thông tin về xu hướng sử dụng gỗ trong ngành xây dựng, Tiến sĩ Lưu Thị Hồng, Phó Viện trưởng Viện Vật liệu xây dựng, Bộ Xây dựng cho biết: Trong bối cảnh chuyển đổi xanh, gỗ ngày càng được nhìn nhận là vật liệu tái tạo có tiềm năng lớn trong giảm phát thải và phát triển bền vững của ngành xây dựng. Trên thế giới, xu hướng tiêu dùng vật liệu xây dựng đang dịch chuyển theo hướng ưu tiên vật liệu carbon thấp, vật liệu sinh khối và vật liệu có khả năng truy xuất nguồn gốc rõ ràng. Gỗ không chỉ được đánh giá ở khía cạnh kỹ thuật mà còn ở toàn bộ vòng đời sản phẩm, từ khai thác, chế biến, sử dụng đến thải bỏ

Tiến sĩ Lưu Thị Hồng, Phó Viện trưởng Viện Vật liệu xây dựng, Bộ Xây dựng chia sẻ xu hướng tiêu dùng gỗ xây dựng tại hội thảo. Ảnh: Xuân Anh - TTXVN

Tiến sĩ Lưu Thị Hồng, Phó Viện trưởng Viện Vật liệu xây dựng, Bộ Xây dựng chia sẻ xu hướng tiêu dùng gỗ xây dựng tại hội thảo. Ảnh: Xuân Anh - TTXVN

Cùng với đó, tiêu chuẩn kỹ thuật không còn đơn thuần là công cụ kiểm soát chất lượng mà đang mở rộng vai trò định hướng lựa chọn vật liệu, hỗ trợ thiết kế công trình xanh và gắn trực tiếp với các mục tiêu môi trường, khí hậu. Các thị trường phát triển như EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Australia và New Zealand đều gia tăng yêu cầu đối với gỗ xây dựng về tính hợp pháp, minh bạch nguồn gốc và tác động phát thải carbon.

Tiến sĩ Lưu Thị Hồng khuyến nghị, để gỗ xây dựng thực sự trở thành vật liệu chiến lược trong chuyển đổi xanh, cần tái cấu trúc hệ thống tiêu chuẩn theo hướng đồng bộ, liên thông từ chất lượng an toàn kỹ thuật đến nguồn gốc, tính bền vững và phát thải carbon. Về trung và dài hạn, tiêu chuẩn cần tích hợp các công cụ đánh giá vòng đời vật liệu (LCA), hồ sơ môi trường sản phẩm (EPD), đồng thời kết nối với hệ thống tiêu chuẩn công trình xanh và chiến lược giảm phát thải quốc gia. Việc này không chỉ đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường quốc tế mà còn mở ra cơ hội nâng cao giá trị gỗ trồng trong nước, thúc đẩy thị trường nội địa và hình thành chuỗi giá trị gỗ xây dựng bền vững.

Xuân Anh/vnanet.vn

Nguồn Bnews: https://bnews.vn/nganh-go-viet-nam-thich-ung-voi-yeu-cau-phat-trien-ben-vung/406725.html