Ngày Tết đọc lại bài thơ 'Ông đồ' của Vũ Đình Liên
Ở Việt Nam, liên quan đến đề tài Tết, có lẽ không có bài thơ nào được phổ biến rộng rãi cho bằng bài 'Ông đồ' của Vũ Đình Liên (1913 - 1996).
Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu giấy đỏ
Bên phố đông người qua
Bao nhiêu người thuê viết
Tấm tắc ngợi khen tài
"Hoa tay thảo những nét
Như phượng múa rồng bay”
Nhưng mỗi năm mỗi vắng
Người thuê viết nay đâu?
Giấy đỏ buồn khôngthắm
Mực đọng trong nghiên sầu...
Ông đồ vẫn ngồi đấy
Qua đường không ai hay
Lá vàng rơi trên giấy
Ngoài giời mưa bụi bay
Năm nay đào lại nở
Không thấy ông đồ xưa
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ?
Ông đồ và những tri âm
Trong hai đoạn thơ đầu, tác giả sử dụng thuần bút pháp tự sự, chỉ kể chuyện, lại là một câu chuyện khá ư bình thường, cứ như một thói quen, một nhịp tuần hoàn quen thuộc: "Mỗi năm... lại thấy...". Chả có gì đáng ngạc nhiên cả. Song tác giả vẫn không giấu được những xúc động thẩm mỹ của mình trước những gì mình nhìn thấy hằng năm.
Ông đồ "nở" cùng với hoa đào, và cùng với hoa đào, ông đồ trở thành biểu tượng của mùa xuân: trong cái đám đông xô bồ những người đi dạo phố thưởng xuân ấy, có một số khá đông dừng lại bên cạnh ông, chiêm ngắm bàn tay ông đưa ngòi bút thoăn thoắt "như phượng múa rồng bay" trên giấy điều. Thán phục bàn tay ấy, họ dùng chữ: "hoa tay". Với chữ "hoa tay" ấy, người ta không coi ông đồ là ông đồ, là người dạy học, người truyền bá chữ nghĩa của thánh hiền nữa mà coi ông như một nghệ sĩ. Khía cạnh thẩm mỹ ở ông nổi bật hẳn lên, lấn át khía cạnh học vấn.
Sau lưng ông đồ, là cả một quá khứ, cả một truyền thống. "Mỗi năm... lại thấy...". "Mỗi năm" là từ bao giờ? Có lẽ không phải lâu lắm đâu. Hiện tượng "bày mực tàu giấy đỏ /bên phố đông người qua", nếu tôi đoán không lầm, chỉ là một trong những biểu hiện của xu hướng thương mại hóa, thành thị hóa xảy ra tại Việt Nam từ cuối thế kỷ 19, lúc Việt Nam đã bị Pháp xâm lược.
Đó là một thứ nghề nghiệp mới của những người đã già. Cái sự oái oăm này chứa đựng cả một bi kịch lịch sử. Nó nhắc chúng ta nhớ lại sự kiện, cùng với ách ngoại xâm, xã hội Việt Nam bị đảo lộn hoàn toàn, trong đó, có quan hệ trực tiếp đến số phận của ông đồ, là sự tàn tạ của nền nho học. Sự tàn tạ ấy dẫn đến sự thất thế của cả một lớp người, có thời, chúng ta vẫn coi như là những biểu tượng của văn hóa truyền thống Việt Nam.
May cho ông, sự thay đổi của truyền thống văn hóa thường chậm hơn sự thay đổi của lịch sử, chính trị, xã hội và hệ thống giáo dục, khoa cử. Quần chúng vẫn còn thói quen trọng chữ nho, ít nhất là trong mấy ngày Tết. Điều đó khiến cho ông, một mặt, có cách sinh nhai, mặt khác, còn những tri âm biết thưởng thức tài hoa của mình. Sự thưởng thức nhiệt tình ấy khiến cái chỗ ngồi trớ trêu bên hè phố của ông trở thành ấm áp hẳn.
Hai đoạn thơ đầu, do đó, không những nói lên sự cộng hưởng, sự hài hòa giữa con người và thiên nhiên mà còn nói lên sự tương liên giữa những con người với nhau. Ông đồ không ngồi một mình với hoa đào. Bên cạnh ông còn có những khách hàng tri âm. Chung quanh họ là mùa xuân đang ngát hương và lộng sắc. Đẹp. Và vui. Niềm vui tràn lên chữ nghĩa của người kể chuyện: giọng ông vang, mạnh với những chữ bắt đầu bằng phụ âm "đ" giòn giã (đào, đồ, đỏ, đông...); ông kể liền một mạch, không muốn nghỉ, rất sôi nổi, đầy say sưa, thật hào hứng: trong hai đoạn thơ, mỗi đoạn bốn dòng, về phương diện ngữ pháp, thật ra, chỉ là một câu, một câu thôi: Mỗi năm hoa đào nở, lại thấy ông đồ già bày mực tàu giấy đỏ bên phố đông người qua.
Bao nhiêu người thuê viết tấm tắc ngợi khen tài: “Hoa tay thảo những nét như phượng múa rồng bay”.
Hơi thơ, nhờ thế, rất nhanh. Thoăn thoắt.
"Ông đồ vẫn ngồi đấy. Qua đường không ai hay"
Nhưng niềm vui ấy kéo dài không lâu. Dù chậm chạp, sự thay đổi vẫn đến. Từ từ. Dần dần. Ông đồ cảm nhận sự thay đổi ấy qua số khách hàng mỗi năm mỗi vắng. Từ sự hờ hững dẫn tới sự lãng quên. "Ông đồ vẫn ngồi đấy/Qua đường không ai hay".
"Qua đường không ai hay": câu thơ duy nhất toàn vần bằng, rưng rưng như một nỗi ngậm ngùi. Lịch sử, như thế, một lần nữa, lại xua đuổi ông đồ vào thế giới của lá vàng và mưa bụi. Lá vàng? Tại sao lại có lá vàng rơi trên giấy? Đang là mùa đông, gần tết cơ mà, chả lẽ là chiếc lá cuối mùa? Chả lẽ ông vẫn ngồi đấy, hóa thành bức tượng tang thương, đến tận mùa thu? Hay lá vàng ở đây chỉ là một biểu tượng của sự tàn phai? Tôi không biết. Chỉ thấy buồn. Thật buồn, cái cảnh "lá vàng rơi trên giấy" ấy.
Tuy nhiên, buồn nhất vẫn là câu kế tiếp: "Ngoài giời mưa bụi bay". Là người Hà Nội, Vũ Đình Liên phát âm "tr" thành "gi", "trời" thành "giời". Lạ lùng thay, âm "giời" - có người sẽ chê là viết sai chính tả - ở đây lại đắc thế. Đã đành dù là "trời" hay "giời" thì câu thơ vẫn là một sự khắc họa hình ảnh cơn mưa bụi đang lất phất bay. Nhưng âm "giời", nhẹ và dài, dễ gợi cảm giác buồn và lạnh của một cơn mưa bụi lâm thâm, lắc rắc rơi trên hình bóng một ông đồ ngồi hiu quạnh với lá vàng và với nỗi thê lương.
Hơi thơ, do đó, rất chậm. Và nhẹ. Và lắng. Có cái gì bâng khuâng như một tiếng thở dài. Rồi, chưa hết, cả màu sắc cũng phôi pha: trước là giấy đỏ thắm, sau, vẫn giấy đỏ, nhưng không còn thắm nữa; cuối cùng, cả giấy đỏ cũng dường như biến mất, chỉ còn là "giấy" thôi, và trên những tờ giấy, là những xác lá vàng. Đến một lúc nào đó, ông đồ vắng hẳn trên hè phố: “Năm nay đào lại nở/Không thấy ông đồ xưa”.
Chữ nghĩa Vũ Đình Liên ý nhị vô cùng. Ở câu thơ đầu tiên, "hoa đào nở"; bây giờ, chỉ còn "đào...nở". Mất đi một chữ "hoa", có lẽ, như một cách bày tỏ sự thương cảm đối với người ra đi, cái người, thoạt đầu, được gọi là "ông đồ già", sau đó, biến thành "ông đồ xưa". "Già" là một khái niệm về tuổi tác; "xưa" là khái niệm về thời gian. Từ "già" đến "xưa", có vô vàn ngày tháng đi qua. Nhưng chưa hết. Ở hai câu cuối, Vũ Đình Liên sẽ gọi ông đồ là "người muôn năm cũ". Trong khái niệm "cũ" có sự đánh giá: đó là cái gì đã thuộc về một thế giới khác, xa xăm và xa lạ, đã bằn bặt mọi dấu vết, đã không còn chút liên hệ gì, dù thật mong manh, với cuộc sống bây giờ…
Có thể nói “Ông đồ” là bài thơ về những sự mất mát. Trước, ông đồ mất một thế đứng trong lĩnh vực giáo dục, sau, ông mất những tri âm, sau nữa, ông mất cả khách hàng, cuối cùng, chính bản thân ông cũng biến mất.
Nhưng bài thơ không chỉ nói về sự mất mát của ông đồ. Mối quan hệ chính trong bài thơ không phải là quan hệ giữa ông đồ và những người thuê viết mà thực ra là quan hệ giữa ông đồ và hoa đào, giữa con người và thiên nhiên. Ở đầu bài thơ, giữa thiên nhiên và con người có sự hòa điệu rất đẹp: hoa đào nở đẹp như hoa tay của ông đồ. Đến cuối, sự hòa điệu ấy biến mất: đào vẫn nở trong khi ông đồ đã đi vào hư vô. Cảm giác ngùi ngùi thương ấy đọng lại đậm nét ở câu cuối: "Hồn ở đâu bây giờ?"
Chữ "bây giờ" ở cuối bài thơ Ông đồ, như một nỗi ngẩn ngơ. Cứ còn lại hoài. Bây giờ, và có lẽ, lâu lắm, sau này.

Nhà phê bình văn học Nguyễn Hưng Quốc
Nhà phê bình văn học Nguyễn Hưng Quốc quê ở Đà Nẵng, tên thật là Nguyễn Ngọc Tuấn, lấy bằng tiến sĩ văn học tại Đại học Victoria (Australia). Ông hiện là giáo sư chủ nhiệm Ban Việt Học tại Đại học Victoria. Ngoài ra, ông là nhà báo tại Đài VOA.
Nguồn Một Thế Giới: https://1thegioi.vn/ngay-tet-doc-lai-bai-tho-ong-do-cua-vu-dinh-lien-246444.html












