Tôn sư trọng đạo 'tài nguyên mềm' của quốc gia trong kỷ nguyên mới

Trong không khí đầu Xuân, khi mỗi gia đình hướng về cội nguồn và những giá trị bền bỉ của dân tộc, câu chuyện tôn sư trọng đạo lại được nhắc đến như một mạch nguồn văn hóa không bao giờ cũ.

Chia sẻ với Chuyên trang Sinh Viên Việt Nam (Báo Tiền Phong), GS. TSKH. NGND Vũ Minh Giang - Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo (ĐHQG Hà Nội) chia sẻ, truyền thống ấy không chỉ là chuẩn mực đạo lý trong quan hệ thầy – trò, mà còn là nền tảng tinh thần gắn với sứ mệnh phát triển quốc gia.

Từ khoa cử đến thiết chế giáo dục

GS Vũ Minh Giang cho rằng, quan hệ thầy – trò trong lịch sử Việt Nam không hình thành đơn thuần từ nhu cầu học tập, mà gắn với yêu cầu trị quốc. Khi nhà nước quân chủ từng bước hoàn thiện, việc tuyển chọn nhân tài phục vụ bộ máy chính quyền trở thành đòi hỏi tất yếu.

 GS. TSKH. NGND Vũ Minh Giang - Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo (ĐHQG Hà Nội).

GS. TSKH. NGND Vũ Minh Giang - Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo (ĐHQG Hà Nội).

Ông phân tích, truyền thống hiếu học có thể đã xuất hiện sớm, nhưng việc học có thầy, có chương trình, có thi cử bài bản chỉ thực sự định hình rõ từ thế kỷ XI, khi triều Lý mở khoa thi tuyển người tài. Từ đó, giáo dục trở thành một thiết chế quan trọng của xã hội.

Việt Nam vốn là quốc gia nông nghiệp, nơi tri thức sản xuất chủ yếu truyền qua kinh nghiệm. Tuy nhiên, trong bối cảnh thường xuyên đối diện thiên tai, chiến tranh và ngoại xâm, kinh nghiệm thôi là chưa đủ. Theo GS Vũ Minh Giang, dân tộc Việt Nam cần đến trí tuệ, tư duy và hiền tài để tồn tại và phát triển. Chính điều đó đã thúc đẩy truyền thống khoa bảng và tôn vinh người thầy.

“Hiền tài là nguyên khí quốc gia”

Dẫn lại câu nói nổi tiếng khắc trên bia tiến sĩ tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”, GS Vũ Minh Giang cho rằng, đây là tư tưởng rất đặc biệt trong lịch sử chính trị.

Ông phân tích, ở nhiều quốc gia quân chủ, sức mạnh quốc gia thường được gắn với nhà vua hoặc hoàng tộc. Nhưng tại Việt Nam, theo ý chỉ của vua Lê Thánh Tông, “nguyên khí” lại được đặt vào hiền tài. Điều đó cho thấy tư duy cầm quyền tiến bộ: Tri thức và nhân tài là nền tảng của quốc gia.

Từ góc nhìn ấy, hiếu học và tôn sư trọng đạo không chỉ là nét đẹp văn hóa, mà là lựa chọn chiến lược trong tiến trình phát triển dân tộc.

Không chỉ gìn giữ, mà phải khai thác

Theo GS Vũ Minh Giang, trong bối cảnh hiện nay, truyền thống hiếu học và tôn sư trọng đạo cần được nhìn nhận như một “tài nguyên mềm”.

“Khi giáo dục, khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực phát triển, thì hiếu học và trọng thầy không thể chỉ dừng ở việc giữ gìn. Đó phải là nguồn lực cần được khai thác”, ông nói.

Ông cho rằng, hội nhập quốc tế mang lại cơ hội tiếp cận tinh hoa nhân loại, nhưng học hỏi không đồng nghĩa sao chép. Nhiều quốc gia thất bại vì áp dụng máy móc mô hình bên ngoài mà không chuyển hóa được giá trị nội sinh thành lợi thế cạnh tranh.

“Điều quan trọng là biến truyền thống, bản sắc và thế mạnh con người Việt Nam thành sức mạnh trong cạnh tranh toàn cầu”, ông nhấn mạnh.

Người thầy và sứ mệnh nuôi dưỡng tự tin

Trong kỷ nguyên hội nhập, vai trò người thầy không chỉ là truyền đạt kiến thức. Theo GS Vũ Minh Giang, giáo dục còn phải khơi dậy niềm tự hào, xây dựng sự tự tin và nuôi dưỡng khát vọng cho người học.

Ông cho rằng, xã hội Việt Nam hiện nay rất cần hai chữ “tự tin” – sự tin tưởng có cơ sở vào năng lực và giá trị của chính mình. Người thầy giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành tâm thế đó.

 GS Vũ Minh Giang: Tôn sư trọng đạo là ‘tài nguyên mềm’ của quốc gia trong kỷ nguyên mới.

GS Vũ Minh Giang: Tôn sư trọng đạo là ‘tài nguyên mềm’ của quốc gia trong kỷ nguyên mới.

Bên cạnh đó, ông bày tỏ lo ngại về nguy cơ bào mòn truyền thống tôn sư trọng đạo trong môi trường mạng xã hội. Việc phê phán tiêu cực là cần thiết, nhưng nếu quy chụp từ một vài trường hợp cá biệt, có thể làm suy giảm niềm tin xã hội đối với đội ngũ nhà giáo.

Theo ông, cần có chiến lược ở tầm quốc gia để đề cao giáo dục và tôn vinh người thầy, không chỉ bằng chính sách đãi ngộ mà bằng vị thế xã hội và sự trân trọng trong dư luận.

Tư duy giáo dục từ những ngày đầu độc lập

Nhìn lại lịch sử hiện đại, GS Vũ Minh Giang nhắc đến tư duy giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chỉ hai ngày sau Tuyên ngôn Độc lập năm 1945, Chính phủ lâm thời đã xác định xóa nạn mù chữ là nhiệm vụ cấp bách.

Theo ông, đó là nhận thức chiến lược: Độc lập phải gắn với nâng cao dân trí và trọng dụng nhân tài trong một thế giới đang thay đổi nhanh chóng.

Ngày nay, khi dân trí đã được cải thiện, thách thức lớn hơn của giáo dục là phát hiện, bồi dưỡng và sử dụng nhân tài, đồng thời nuôi dưỡng khát vọng cống hiến.

“Khoa học có thể không biên giới, nhưng nhà khoa học phải có Tổ quốc”, GS Vũ Minh Giang nói, cho rằng dù học tập và làm việc ở đâu, trí thức Việt Nam vẫn cần đặt câu hỏi: Mình đóng góp gì cho đất nước.

Trong dòng chảy hiện đại, tôn sư trọng đạo không chỉ là câu chuyện của quá khứ. Khi được nhìn nhận như một nguồn lực phát triển và được đầu tư đúng mức, truyền thống ấy có thể trở thành động lực tinh thần quan trọng, giúp Việt Nam tự tin bước vào kỷ nguyên mới.

Nguồn SVVN: https://svvn.tienphong.vn/ton-su-trong-dao-tai-nguyen-mem-cua-quoc-gia-trong-ky-nguyen-moi-post1821817.tpo