Ngày xuân 'lai rai' chuyện rượu
Từ men rượu trong thơ Nguyễn Đức Mậu đến hương rượu làng Vân, Bàu Đá, thú ẩm tửu đã trở thành văn hóa đặc trưng của người Việt mỗi độ xuân về. Rượu không chỉ để uống, mà để kể chuyện đời, chuyện người trong ngày Tết.
Từ men rượu trong thơ Nguyễn Đức Mậu đến hương rượu làng Vân, Bàu Đá, thú ẩm tửu đã trở thành văn hóa đặc trưng của người Việt mỗi độ xuân về. Rượu không chỉ để uống, mà để kể chuyện đời, chuyện người trong ngày Tết.

Với nhiều văn nhân rượu như chất xúc tác, kích phát trí tưởng tượng. Ảnh minh họa tạo bởi AI - Nguồn: Xuân Lực
Trong bài thơ“Rượu xuân”, nhà thơ Nguyễn Đức Mậu viết “
“Trái bưởi vàng, nụ đào chơm chớm
Có một phần thơm thảo mùa xuân
Mưa mỏng giăng tơ, li ti hoa dại
Xuân qua tôi nhè nhẹ gót chân trần”
Rượu trong thơ Nguyễn Đức Mậu không phải là loại đồ uống có cồn. Nhà thơ thi ca hóa mùa xuân thành thứ men trời đất:
“Lang thang cùng ngày xuân ngây ngất
Cốc rượu thiên nhiên tôi uống dần dà
Uống chậm rãi, lo ngày xuân cạn mất
Lo xám trời gió bấc nẻo đường xa...”,
(trích bài thơ “Rượu xuân”)
Thực tế, đối với cộng đồng, rượu là một yếu tố đặc biệt trong sinh hoạt văn hóa từ xa xưa. Từ lễ tết hội hè đình đám đến những cuộc vui chơi thù tạc đều thấy sự hiện hữu của rượu, nó là chất men kích thích con người trở về với tự nhiên, xóa đi những hàng rào ngăn cách của ý thức.
Người xưa nói “Nam vô tửu như kì vô phong” (Đàn ông không rượu như cờ không gió) chính là nói về cái lẽ tự nhiên mà rượu mang tới. Kề cận các trung tâm chính trị, văn hóa của các triều đại đều thấy xuất hiện những “trung tâm rượu” nổi tiếng và thường được duy trì lâu dài về hậu thế. Nếu như loài người đã tạo ra văn hóa, thì “văn hóa rượu” quả là đáng kể.
Những lò rượu nổi tiếng như thế đều được sản xuất với kĩ thuật bí truyền đặc biệt, đó là kĩ thuật ủ men, kĩ thuật chưng cất và có khi cái ngon đặc biệt của rượu nằm trong nguồn nước dùng chỉ có ở riêng một vùng đất mà thôi.
Tôi sinh ra, lớn lên ở “đất rượu”. Rượu “nút lá chuối” vùng quê Can Lộc có tiếng trong Nam, ngoài Bắc. Chỉ tội hơi “nặng độ” nên không phải ai cũng dùng được. Tuy nhiên, phải ghi nhận rằng, đất nước Việt Nam có nhiều “trung tâm rượu” truyền thống. Đáng kể nhất vẫn là rượu làng Vân (Bắc Ninh) và rượu Bàu Đá (Bình Định, nay là Gia Lai). Làng Vân thuộc vùng Kinh Bắc xưa, sau nhà Lý dời đô lên Thăng Long thì cũng chỉ cách lò rượu này vài chục cây số. Còn lò rượu Bàu Đá gần như kề sát kinh thành của người Chăm xưa.
Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo sinh thời kể rằng, năm 1985, ông được chứng kiến lần đầu tiên nhạc sĩ Văn Cao uống rượu Bàu Đá vừa lấy ở lò ra. Văn Cao rất ngạc nhiên về sự thơm ngon đậm đà kì lạ, và đã đem so rượu Bàu Đá với rượu làng Vân. Nhạc sĩ của “Tiến quân ca” nhận xét: “Rượu Vân mỏng, rượu Bàu Đá dày”.
Những lò rượu nổi tiếng như thế đều được sản xuất với kĩ thuật bí truyền đặc biệt, đó là kĩ thuật ủ men, kĩ thuật chưng cất và có khi cái ngon đặc biệt của rượu nằm trong nguồn nước dùng chỉ có ở riêng một vùng đất mà thôi. Để giữ riêng kĩ thuật nấu rượu của mình, trước đây con gái làng Vân không được đi lấy chồng làng khác. Ngược lại, con gái Bàu Đá dẫu có về làm dâu vùng khác vẫn không thể nấu được rượu ngon như khi nấu rượu ở chính quê mình.
Kĩ thuật nấu rượu bí truyền ở làng Vân cho đến nay vẫn là cả một bí mật không dễ gì khám phá. Mấy năm trước, một đoàn cán bộ sinh hóa đã đến làng Vân nghiên cứu và làm thực nghiệm với những công cụ và phương tiện hiện đại để đối chiếu với công nghệ nấu rượu thủ công của một chị nông dân. Rốt cuộc, mẻ rượu của chị nông dân ngon và dịu hơn hẳn mẻ rượu của các nhà sinh hóa, dù “phương tiện” kiểm tra của chị chỉ có tay và mắt.
Với công nghệ thủ công mà rượu làng Vân nổi tiếng khắp gần xa, và đã trở thành nguồn rượu quí đối với văn hóa ẩm tửu của vua quan ở kinh thành Thăng Long một thuở, nó từng được đóng vào các bình sứ với nhãn hiệu Vân Hà mĩ tửu có vẽ hình ông tiên cầm gậy trúc. Nhưng cũng có thời do tình hình khan hiếm lương thực, chính quyền đã cấm nấu rượu và tịch thu các phương tiện sản xuất ở lò rượu làng Vân.
Thời thóc cao gạo kém của những năm bao cấp, dù chính quyền cấm nấu rượu rốt cuộc đã không thành vì “ẩm tửu” đã trở nên một nhu cầu văn hóa có tính truyền thống. Rượu lậu vẫn âm thầm hoạt động. Tôi còn nhớ thời bé, vẫn nhìn thấy những bộ đồ “nghề nấu rượu” được chính quyền thu giữ. Cha tôi từng làm nhiệm vụ “quản lý thị trường” ở xã.
Bây giờ thì rượu làng Vân, rượu Bàu Đá không những được bảo tồn mà còn có xu hướng phát triển với qui mô lớn. Ở Bắc Ninh có cả một công ty chuyên sản xuất rượu bằng phương pháp thủ công cung cấp cho các đại lí, các khách sạn du lịch, các sân bay quốc tế và xuất khẩu ra nước ngoài với nhãn hiệu “Vân Hương mĩ tửu”.
Nghe đồn rằng, người làng Vân bây giờ không chỉ nấu rượu gạo, rượu sắn, rượu nếp như trước nữa, mà người ta còn nấu rượu bằng cốm. Cô gái quan họ chít khăn mỏ quạ, mang áo mớ bảy mớ ba, nâng trên tay ly rượu cốm trong veo, hát câu dân ca duyên dáng mời khách:
“Tay tiên chuốc chén rượu đào
Sánh ra thì tiếc, uống vào thì say...”.
Nâng chén rượu lên môi, mùi hương cốm thấm hơi men tỏa thơm ngào ngạt. Rượu vừa nhấp đã cảm thấy người râm ran một cảm giác ngất ngây diệu vợi, cặp mắt, nụ cười trở nên tươi sáng kì lạ, và đầu óc bỗng minh mẫn khác thường.
Theo sử sách ghi lại thì từ thời cổ đại, rượu là thứ đồ uống nhật dụng thường ngày kích thích bữa ăn thêm ngon miệng hoặc truyền thêm sức mạnh tinh thần cho con người, dần dà nó mới đi vào lối sống cao thượng của kẻ sĩ. Họ mượn rượu để bày tỏ nhân cách và quan niệm nhân sinh của mình. Rượu giúp cho văn nhân có cảm hứng khác thường, kích phát trí tưởng tượng và làm bùng cháy lên những tình cảm bột phát của linh tính.
Những bài thơ tuyệt tác của Lý Bạch đều liên quan đến rượu là bằng chứng của sức sáng tạo bôn phóng độc đáo được rượu nuôi dưỡng và kích phát:
“Cửa bôi dữ minh nguyệt
Đối ảnh thành tam nhân”
Dịch nghĩa:
“Nâng chén mời trăng sáng
Cùng với bóng thành ba người”
Hầu như các thi nhân đông tây kim cổ đều dính líu đến rượu. Chả thế mà "Bầu rượu túi thơ" từ lâu đã trở thành một câu thành ngữ. Và con người “mặc định” là thi sĩ phải biết uống rượu, ngược lại nghĩ đến rượu là nghĩ đến nhà thơ.
Theo sử sách ghi lại thì từ thời cổ đại, rượu là thứ đồ uống nhật dụng thường ngày kích thích bữa ăn thêm ngon miệng hoặc truyền thêm sức mạnh tinh thần cho con người, dần dà nó mới đi vào lối sống cao thượng của kẻ sĩ.
Cái thú ẩm tửu làm phát lộ những tố chất chứa đựng tinh hoa của con người. Khai mở những giới hạn ràng buộc nặng nề trong cuộc sống, giải phóng những ẩn ức và thể hiện tâm cách một cách tự nhiên, mang tới niềm cảm thông, vui sống và sáng tạo. Đấy là Tiên tửu. Dưới Tiên tửu là Tục tửu, và sau nữa là Cuồng tửu. Những kẻ tục tửu thường lấy rượu làm mục đích, uống càng nhiều càng oai, nốc càng lắm càng hùng. Những kẻ cuồng tửu lại thường không kìm chế nổi mình, càng uống càng hung dữ. Vậy là rượu với người này hóa hay, rượu với kẻ kia hóa dở.
Sẽ buồn tẻ biết bao nếu trên đời này không còn cái thứ nước mang tên là Rượu. Những lễ tết hội hè đình đám, gặp gỡ, chia li mới thêm niềm tri kỉ. Những cô gái trong cuộc vui chỉ nhấp môi vào ly rượu đủ ửng hồng đôi má, mà vẻ đẹp trở nên rực rỡ khác thường. Những chàng trai cạn vài ba chén rượu có thể đi tận mọi chân trời góc bể. Và các cụ già bên chén rượu nhâm nhi, như sống lại cả quãng đời oanh liệt tự hào.
Tuy nhiên, sức công phá của rượu đối với sức khỏe, hành vi đâu có thua gì sức công phá của các loại “nghiệp nhập” khác. Vì thế mà nhiều năm nay, thông điệp "Đã uống, không lái xe", "Không uống rượu bia khi tham gia giao thông"... dần dần đi vào đời sống.
Nguồn VietTimes: https://viettimes.vn/ngay-xuan-lai-rai-chuyen-ruou-post194784.html











