Nghệ An phát triển cây con chủ lực (Bài 1): Luận chứng khoa học về sức chứa môi trường và mô hình nông nghiệp tập trung
Nền sản xuất nông nghiệp Nghệ An đang phát triển theo theo hướng hàng hóa, quy mô lớn và ứng dụng công nghệ cao, việc đánh giá sức chứa môi trường, khả năng phục hồi của hệ sinh thái là vô cùng quan trọng.
Luận chứng kinh tế sinh thái: sức chứa môi trường và cân bằng sinh thái
Sản xuất nông nghiệp quy mô lớn đòi hỏi việc phân tích sâu sắc lý thuyết về sức chứa môi trường và ngưỡng cân bằng sinh thái đối với đất và tài nguyên nước.

Hàng chục trại chăn nuôi lợn xây dựng trái phép trên địa bàn xã Bích Hào (Nghệ An) cần có phương án quản lý chặt về xả thải. Ảnh: Nguyễn Công
Theo thông tin từ Sở Nông nghiệp và Môi trường Nghệ An, giai đoạn 2020-2025, tỉnh đã chứng kiến sự tăng trưởng ấn tượng của ngành nông nghiệp với tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp bình quân đạt 4,5%/năm.
Điều này thể hiện qua việc hình thành các vùng nguyên liệu tập trung, phát triển chăn nuôi quy mô công nghiệp và ứng dụng công nghệ cao. Tuy nhiên, sự gia tăng cường độ sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là các cây, con chủ lực như sắn, mía, cây ăn quả và gia súc, đang tạo áp lực đáng kể lên tài nguyên đất và nước.
Việc sử dụng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật tràn lan có thể dẫn đến tích tụ nitrat, photpho trong đất và nguồn nước, gây suy thoái dinh dưỡng đất và hiện tượng phú dưỡng hóa nguồn nước. Lạm dụng thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ không chỉ ảnh hưởng đến đa dạng sinh học mà còn tiềm ẩn nguy cơ tích tụ kim loại nặng, gây hại cho sức khỏe con người.
Bên cạnh đó, việc khai thác nước ngầm quá mức cho tưới tiêu có thể dẫn đến cạn kiệt nguồn nước ngầm, một vấn đề nhạy cảm tại nhiều vùng của Nghệ An.
Phản biện góc độ quy hoạch tiểu vùng, rủi ro khi mở rộng sản xuất quy mô lớn
Khi mở rộng diện tích các loại cây, con chủ lực như sắn, mía, cây ăn quả, gia súc trên các tiểu vùng khí hậu khác nhau của Nghệ An, nguy cơ về suy thoái dinh dưỡng đất, cạn kiệt nguồn nước ngầm và biến đổi đa dạng sinh học là hiện hữu.
Theo thông tin từ các báo cáo về nông nghiệp của tỉnh Nghệ An, việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, từ đất lúa sang các cây trồng hàng năm mang lại giá trị cao hơn như rau màu, ngô, đậu, dược liệu, sắn đã diễn ra mạnh mẽ.
Tuy nhiên, việc độc canh hoặc thâm canh các loại cây trồng này mà không có biện pháp quản lý đất bền vững có thể làm suy giảm chất lượng đất.

PGS, TS Trương Mạnh Tiến Chủ tịch Hội Kinh tế Môi trường Việt Nam (VIASEE).
Trao đổi về vấn đề này, PGS, TS Trương Mạnh Tiến, Chủ tịch Hội Kinh tế Môi trường Việt Nam (VIASEE) cho biết: "Việc phát triển nông nghiệp quy mô lớn cần đi đôi với quy hoạch sử dụng đất khoa học, có tính đến khả năng chịu tải của môi trường.
Nếu không có quy hoạch chi tiết, việc mở rộng diện tích các loại cây, con chủ lực có thể dẫn đến phá vỡ cân bằng sinh thái, làm mất đi các loài sinh vật bản địa và giảm khả năng tự phục hồi của hệ sinh thái nông nghiệp địa phương".
Nhận diện mâu thuẫn sinh thái - sản lượng: Sự tương thích giữa tăng trưởng và phục hồi
Mục tiêu tăng trưởng sản lượng thuần túy trong các đề án phát triển nông nghiệp là cần thiết để đảm bảo an ninh lương thực và thúc đẩy kinh tế. Tuy nhiên, sự tương thích giữa mục tiêu tăng trưởng sản lượng và khả năng tự phục hồi của hệ sinh thái nông nghiệp là một thách thức lớn. Các mô hình nông nghiệp xanh, nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp tuần hoàn đang được khuyến khích như một giải pháp để hài hòa hai yếu tố này.

Cây dứa được tỉnh Nghệ An đưa vào là một trong những cây chủ lực trong giai đoạn 2026 - 2030. Ảnh: Nguyễn Công
Việc ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp, dù mang lại năng suất cao, nhưng nếu không đi kèm với các biện pháp bảo vệ môi trường, có thể làm gia tăng áp lực lên tài nguyên.
Ví dụ, trong sản xuất dứa, việc mở rộng diện tích nhanh chóng mà thiếu kiểm soát về giống và quy trình sản xuất đã dẫn đến rủi ro dịch bệnh thối nõn trên diện rộng vào năm 2025.
Điều này cho thấy sự cần thiết của việc tổ chức lại sản xuất theo chuỗi liên kết, gắn với nhà máy chế biến và doanh nghiệp dẫn dắt thị trường, đồng thời đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật để nâng cao năng suất và chất lượng một cách bền vững.
Đại diện Sở Nông nghiệp và Môi trường Nghệ An cho biết, để giải quyết những mâu thuẫn này, Nghệ An đang đẩy mạnh định hướng phát triển nông nghiệp xanh, kinh tế tuần hoàn, với các giải pháp như: Tổ chức sản xuất theo hướng nông nghiệp hiện đại, xanh, sạch, sinh thái. Ưu tiên ứng dụng công công nghệ mới, thông minh, sử dụng hiệu quả tài nguyên, giảm phát thải; Thúc đẩy nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ sinh học, công nghệ số, IoT, blockchain trong chuỗi giá trị nông nghiệp; Phát triển các mô hình nông nghiệp bền vững, khuyến khích nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp tuần hoàn, giảm thiểu sử dụng hoá chất.

Mô hình nuôi gà đẻ trứng thao dược tại HTX Nông nghiệp Hải An, Đô Lương (Nghệ An). Ảnh: Nguyễn Công
Việc cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường đòi hỏi sự chung tay của các cấp chính quyền, doanh nghiệp và người nông dân, hướng tới một nền nông nghiệp bền vững, có khả năng phục hồi và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Có thể thấy, nhận diện được giới hạn của sức chứa môi trường mới chỉ là bước đi đầu tiên trong hành trình định hình lại tư duy sản xuất. Đằng sau những con số tăng trưởng ấn tượng về năng suất và sản lượng, nền nông nghiệp truyền thống đang phải gánh chịu những tổn thất khổng lồ không được hạch toán trực tiếp vào giá thành sản phẩm – đó chính là những "chi phí ẩn" về suy thoái thổ nhưỡng, ô nhiễm nguồn nước và suy giảm hệ sinh thái.
Vậy, những chi phí ẩn này thực chất đang "bào mòn" hiệu quả kinh tế chung ra sao? Và đâu là lời giải từ nguyên lý kinh tế tuần hoàn để khép kín chuỗi giá trị, biến "chất thải" thành "tài nguyên" trong định hướng phát triển nông nghiệp của Nghệ An?
Kính mời quý độc giả đón đọc kỳ tiếp theo:Bài 2: Bài toán chi phí ẩn và nguyên lý kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp.

