Nghề làm nón ở Quảng Hòa: Giữ nghề giữa nỗi lo mai một
Giữa cái nắng hè của vùng quê, ở làng Quảng Hòa (xã Đan Điền, TP Huế), vẫn còn hàng chục hộ dân lặng lẽ gắn bó với nghề chằm nón. Thu nhập từ nghề không cao, lớp trẻ ngày càng ít mặn mà nối nghiệp, nhưng với nhiều người dân nơi đây, chiếc nón lá không chỉ là kế sinh nhai mà còn là nghề đã gắn bó gần trọn cuộc đời.
Trong hiên nhà nhỏ ở thôn Quảng Hòa, bà Trương Thị Vẩn (53 tuổi) vẫn lặng lẽ ngồi bên khung nón quen thuộc. Đôi tay thoăn thoắt đưa từng mũi kim xuyên qua lớp lá, siết chặt từng vòng dây cước. Công việc ấy đã theo bà suốt 35 năm, kể từ ngày được mẹ và các chị truyền nghề.

Từ dựng vành, lợp lá đến chằm nón, mỗi công đoạn đều đòi hỏi sự khéo léo và tỉ mỉ của người thợ.
Đến nay, khi đôi mắt đã mờ dần theo năm tháng, những cơn đau xương khớp thường xuyên hành hạ và đôi vai đã lệch vì nhiều năm ngồi chằm nón, người phụ nữ ấy vẫn chưa một ngày rời bỏ công việc gắn bó với mình hơn nửa cuộc đời.
Để hoàn thành một chiếc nón, người thợ phải trải qua nhiều công đoạn như dựng vành, lợp lá, chằm nón, cắt dây cước và chỉnh dáng. Mỗi sản phẩm mất hơn bốn giờ mới hoàn thiện. Trung bình mỗi ngày, bà Vẩn làm được hai chiếc, bán với giá khoảng 70.000 đồng một chiếc.

Bà Trương Thị Vẩn thực hiện công đoạn lợp lá, một trong những khâu đòi hỏi sự khéo léo để từng tàu lá được xếp đều, tạo nên độ kín và vẻ đẹp cho chiếc nón.
Theo bà Vẩn, trong các công đoạn, dựng vành và lợp lá là khó nhất. Người làm phải căn cho khung tròn đều, lá phủ kín, không bị lệch hay hở. Chỉ một sơ suất nhỏ cũng có thể khiến chiếc nón mất dáng hoặc không đạt yêu cầu.
Vừa khéo léo luồn sợi cước qua từng lớp lá, bà Vẩn tâm sự: “Giờ mắt mờ, lưng đau vì xương khớp nhưng vẫn phải làm để có đồng ra đồng vào, chứ mình cũng không có bằng cấp để làm việc khác”.
Lời chia sẻ mộc mạc ấy cũng là thực tế của nhiều phụ nữ ở làng Quảng Hòa. Nghề chằm nón không mang lại cuộc sống dư dả nhưng vẫn là nguồn thu nhập giúp họ trang trải sinh hoạt hằng ngày.

Mỗi đường kim được bà Vẩn tỉ mỉ để cố định lớp lá, quyết định độ bền và tính thẩm mỹ của chiếc nón.
Điều khiến bà Vẩn lo lắng nhất hiện nay không phải là đầu ra của sản phẩm mà là sức khỏe ngày càng giảm sút. Mỗi ngày phải ngồi nhiều giờ liền, mắt tập trung vào từng đường kim, bàn tay liên tục thao tác khiến các bệnh về mắt và xương khớp ngày một nặng hơn. Dẫu vậy, bà vẫn tiếp tục làm nghề vì đó là công việc đã nuôi sống gia đình suốt nhiều năm qua.
Nỗi trăn trở lớn hơn cả của bà là không có người nối nghiệp. Các con đều đã lựa chọn công việc khác, không ai tiếp tục gắn bó với nghề chằm nón như mẹ.
Không riêng bà Vẩn, nhiều phụ nữ trong làng vẫn duy trì nghề như một nguồn thu nhập phụ bên cạnh công việc chính.
Bà Đỗ Thị Thơi (61 tuổi) cho biết bà tự học chằm nón từ năm 16 - 17 tuổi. Ngoài thời gian làm nón, bà còn bán tạp hóa để có thêm thu nhập nuôi các con ăn học. Đến nay, các con đều đã tốt nghiệp đại học và có công việc ổn định.
“Giờ mình vẫn làm nón vì quen tay, nhưng không muốn con theo nghề nữa. Các con được học hành thì nên có công việc ổn định hơn”, bà Thơi chia sẻ.
Trong khi đó, chị Nguyễn Thị Thủy (41 tuổi) học nghề từ năm 15 tuổi. Chị vừa làm ruộng vừa tranh thủ chằm nón vào những lúc nông nhàn. Thu nhập từ nghề không lớn nên kinh tế gia đình vẫn phụ thuộc chủ yếu vào công việc của chồng. Với chị, nghề chằm nón là cách tận dụng thời gian rảnh để kiếm thêm thu nhập.
Gắn bó với công việc thu mua nón suốt 43 năm, bà Trần Thị Xoa (63 tuổi) cho biết: Hiện nay, đầu ra của những chiếc nón ở Quảng Hòa chủ yếu thông qua các hộ thu mua trong làng. Mỗi ngày bà thu mua khoảng 50 chiếc nón của các hộ dân rồi đưa ra chợ Đông Ba tiêu thụ. Mùa hè, đặc biệt từ tháng 5 trở đi, lượng nón nhiều hơn do người dân đã hoàn thành công việc đồng áng và có thêm thời gian làm nghề.

Những chồng nón sau khi hoàn thiện được tập kết tại nhà bà Trần Thị Xoa trước khi đưa ra chợ Đông Ba tiêu thụ.
Theo bà Xoa, nón lá truyền thống vẫn là sản phẩm được khách hàng lựa chọn nhiều nhất. Những năm gần đây, thị trường xuất hiện thêm các sản phẩm nón làm từ cỏ bàng, góp phần tạo thêm sự đa dạng cho mặt hàng này.
“Năm nay nón bán được hơn năm trước. Khách vẫn chuộng nón lá truyền thống, ngoài ra còn có thêm nón cỏ bàng nên lượng tiêu thụ cũng khá hơn”, bà Xoa tâm sự.
Không chỉ là vật dụng che nắng, che mưa, chiếc nón lá còn gắn liền với hình ảnh người phụ nữ Huế và trở thành món quà lưu niệm được nhiều du khách tìm mua mỗi khi đến với vùng đất Cố đô.

Ông Trương Đình Dự, Trưởng thôn Nghĩa Lộ cho biết, số hộ gắn bó với nghề làm nón đã giảm so với trước, chủ yếu do lớp trẻ không còn mặn mà với nghề.
Theo ông Trương Đình Dự, nguyên trưởng thôn Quảng Hòa, nghề chằm nón ở địa phương đã có từ rất lâu đời. Khi ông còn nhỏ, trong làng đã có nhiều gia đình theo nghề. Có thời điểm, khoảng 70 trong tổng số 200 hộ dân của thôn sống bằng nghề chằm nón. Hiện nay, con số này giảm xuống còn khoảng 50 hộ.
Thu nhập của người làm nghề dao động từ 150.000 - 200.000 đồng mỗi ngày, tùy theo tay nghề và thời gian làm việc. Dù vẫn mang lại nguồn thu nhập nhất định, nghề chằm nón đang đối mặt với bài toán thiếu người kế tục. “Điều đáng lo nhất bây giờ là không còn nhiều người trẻ muốn học nghề”, ông Dự chia sẻ.
Theo ông Dự, phần lớn những người còn gắn bó với nghề hiện nay đều đã lớn tuổi. Trong khi đó, lớp trẻ có điều kiện học hành, lựa chọn làm việc tại doanh nghiệp hoặc theo đuổi những ngành nghề có thu nhập ổn định hơn nên ít mặn mà với công việc đòi hỏi sự tỉ mỉ nhưng giá trị kinh tế chưa cao.
Đến nay, làng Quảng Hòa vẫn chưa được công nhận là làng nghề truyền thống. Tuy nhiên, với nhiều hộ dân, nghề chằm nón vẫn giữ vai trò quan trọng trong việc tạo thêm thu nhập, đặc biệt đối với phụ nữ nông thôn.
Chiều dần buông trên hiên nhà, bà Vẩn vẫn kiên nhẫn hoàn thiện những đường kim cuối cùng. Chiếc nón sau nhiều giờ làm việc đã thành hình, đều vành, kín lá. Đó không chỉ là một sản phẩm để bán mà còn là kết tinh của sự khéo léo, bền bỉ và tình yêu với nghề đã theo bà hơn ba thập kỷ.
Giữa những đổi thay của cuộc sống hiện đại, những người phụ nữ ở Quảng Hòa vẫn lặng lẽ giữ nhịp kim trên từng vành nón. Dẫu tương lai của nghề còn nhiều trăn trở, mỗi chiếc nón hoàn thành hôm nay vẫn là minh chứng cho sức sống bền bỉ của một nghề thủ công đã gắn bó với vùng quê này qua nhiều thế hệ.












