Nghệ thuật truyền thống trước cơ hội công nghiệp văn hoáBài 1: Khi nghệ thuật truyền thống bước ra phố
LTS: Tuồng, Bài chòi, hát bả trạo và nghệ thuật Chăm là những di sản mang dấu ấn riêng của miền Trung, đồng thời mở ra nguồn chất liệu giàu tiềm năng cho các sản phẩm văn hóa. Từ sân khấu đường phố đến chương trình thực cảnh, từ lớp truyền dạy cộng đồng đến những định hướng phát triển công nghiệp văn hóa, câu hỏi đặt ra không chỉ là làm sao để di sản được nhiều người biết đến. Quan trọng hơn, cần tạo dựng công chúng, thị trường và cơ hội làm nghề, trong khi vẫn tôn trọng không gian thực hành, tri thức và cộng đồng nắm giữ di sản. Loạt bài “Nghệ thuật truyền thống trước cơ hội công nghiệp văn hoá” nhìn vào những mô hình đang hiện diện tại Đà Nẵng để nhận diện cơ hội, giới hạn và những việc cần làm để nghệ thuật truyền thống phát triển bền vững.

Một trích đoạn tuồng bên sông Hàn, tiếng hô Bài chòi giữa phố cổ hay điệu bả trạo trong lễ hội có thể đưa nghệ thuật truyền thống đến gần công chúng. Nhưng để người xem trở lại, cần nhiều hơn một cuộc gặp gỡ tình cờ.

Một người đi dạo trên phố có thể bất chợt dừng lại trước một không gian diễn một trích đoạn tuồng mà không cần mua vé, không “chuẩn bị” trước kiến thức cơ bản về tích tuồng. Khoảng cách giữa nhà hát và khán giả vì thế được thu ngắn với những buổi “đưa tuồng xuống phố” mà Đà Nẵng, Hội An đang làm.
Nhưng điều làm nên sức hấp dẫn của tuồng không chỉ ở đoạn ngâm, chiếc mặt nạ, trang phục và động tác võ. Người xem cần hiểu vì sao nhân vật xuất hiện, tích tuồng đang diễn và các quy ước sân khấu truyền thống diễn đạt cảm xúc như thế nào.
Nếu chỉ dừng ở việc xem một tiết mục lạ mắt, khả năng khán giả chủ động tìm đến nhà hát sau những lần tình cờ xem trên phố vẫn là câu hỏi bỏ ngỏ.

Trích đoạn tuồng được giới thiệu tại không gian công cộng, đưa sân khấu truyền thống đến gần khán giả
Nhà hát Tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh (nay là Nhà hát Nghệ thuật truyền thống Đà Nẵng) từng tổ chức chương trình “Tuồng xuống phố”, đưa nghệ thuật truyền thống ra không gian công cộng. Đây là cách tháo gỡ một trở ngại có thật: nhiều người chưa có thói quen đến nhà hát, trong khi những buổi diễn ở quảng trường, tuyến phố du lịch có thể tiếp cận cả cư dân và du khách.
Tuy nhiên, sân khấu ngoài trời có tiếng ồn, thời lượng giới hạn, người xem có những nền tảng văn hóa, hiểu biết về tích tuồng rất khác nhau. Nghệ sĩ phải chọn trích đoạn đủ cô đọng mà không làm mất mạch; đơn vị tổ chức phải giới thiệu tích truyện và tạo điều kiện để công chúng hiểu lối hát, động tác, âm nhạc. Việc chuyển địa điểm chỉ có ý nghĩa lâu dài nếu kéo theo đổi mới cách tổ chức tiếp nhận.
Hoạt động “Tuồng xuống phố” như một kênh tiếp cận công chúng ngoài nhà hát. Song sự quan tâm tại một buổi diễn chưa đủ chứng minh thói quen thưởng thức dài hạn. Hiệu quả cần được nhìn ở lịch diễn duy trì, khán giả trở lại và khả năng đưa người xem đến với tác phẩm trọn vẹn.
Người đi ngang có thể dừng lại vì âm thanh, màu sắc; khán giả chủ động đến nhà hát cần biết nội dung, thời lượng và giá trị của đêm diễn. Giữa hai trải nghiệm là công việc giới thiệu tác phẩm, kể chuyện về nghệ sĩ và tạo cơ hội thưởng thức lần sau.


Ở Hội An, Bài chòi có lợi thế khác. Khán giả vừa nghe hô hát vừa có thể tham gia trò chơi, tương tác với anh hiệu và người chơi chung quanh. Nhưng Bài chòi không đơn thuần là trò chơi dân gian để giữ chân khách. Khả năng ứng tác, vốn ngôn ngữ địa phương và kinh nghiệm dẫn dắt đám đông là kết quả tích lũy của người thực hành.

Người dân và du khách tham gia hô hát Bài chòi tại phố cổ Hội An
Phân tích về đặc trưng sáng tạo trong tiếp biến, giao lưu văn hóa của “folklore” vùng Hội An, ThS. Phùng Tấn Đông, Chi hội Văn nghệ Dân gian Quảng Nam nhắc đến tính linh hoạt của lời hô Bài chòi. Diễn xướng Bài chòi luôn thu hút người xem ở tính chất trò chơi ngôn ngữ của nó - tính chất này tùy thuộc vào tính “ứng tác” của anh hiệu về tên quân bài.
Trong tính dị bản của văn học dân gian, bản thân Bài chòi mỗi lời hô đã sẵn có nhiều dị bản. Về mặt âm nhạc - do tính mở của văn bản lời hô/diễn nên Bài chòi luôn “dung nạp” các làn điệu hò, lý, vè, thậm chí các ca khúc mới có chất liệu âm nhạc dân gian địa phương.
Người ta nói “Bài chòi luôn luôn mới, mỗi năm mỗi mới” ở ý nghĩa như vậy. Đặc tính đó mở ra khả năng thích ứng với công chúng mới, nhưng cũng đòi hỏi người biểu diễn hiểu giá trị gốc trước khi đổi mới cách thể hiện.

Tuồng, Bài chòi và hát bả trạo có những điều kiện tồn tại khác nhau. Với tuồng, khán giả tiếp cận một cấu trúc sân khấu gồm tích truyện, vai diễn, động tác ước lệ và dàn nhạc. Với Bài chòi, yếu tố tương tác và ứng tác là sức hút quan trọng. Trong khi đó, hát bả trạo gắn với tín ngưỡng thờ cá Ông, lễ cầu ngư và đời sống tinh thần cư dân biển.
Nếu đưa một trích đoạn bả trạo vào chương trình văn hóa, người tổ chức phải cho người xem biết đó là phần giới thiệu một thực hành nghi lễ, không phải toàn bộ nghi lễ có thể tái tạo tùy ý trên sân khấu du lịch.

Tại tọa đàm về bảo tồn, phát huy nghề truyền thống và văn nghệ dân gian ở Hội An, trong tham luận về nghệ thuật hát bội ThS. Thái Thị Liễu Chi, Trung tâm Bảo tồn DSVHTG Hội An phản ánh tình trạng loại hình từng gắn với lễ hội làng xã ngày càng ít xuất hiện tại sân đình, sân lăng.
Thực trạng này nhắc tới một giới hạn quan trọng: nghệ thuật có thêm suất diễn ở điểm du lịch chưa hẳn đã được duy trì đầy đủ trong môi trường cộng đồng đã sản sinh ra nó.
Áp lực rút ngắn thời lượng, tăng tính giải trí đặt ra ranh giới cần nhận diện: tiết mục biên tập cho du khách là một hình thức giới thiệu mới, không thay thế không gian thực hành gốc. Bên cạnh lượt xem, sức sống di sản còn thể hiện ở câu lạc bộ, người truyền dạy và những dịp sinh hoạt cộng đồng.
Với bả trạo, lời dẫn cần giải thích vai trò đội chèo, âm nhạc và bối cảnh lễ cầu ngư. Nếu chỉ trình diễn động tác chèo cách điệu, người xem dễ nhầm một thực hành tín ngưỡng với tiết mục giải trí. Sự đồng thuận của cộng đồng chủ thể là điều kiện quan trọng khi đưa chất liệu nghi lễ lên sân khấu.

Quá trình xây dựng các chương trình nghệ thuật truyền thống phục vụ cộng đồng và du khách tại Hội An là một đóng góp đáng kể của bảo tồn gắn với du lịch. Nhưng sự hiện diện của một chương trình không tự động tạo ra thị trường riêng cho loại hình nghệ thuật đó.
Lượng người qua lại ở phố cổ hay bên bờ sông chỉ cho biết cơ hội tiếp xúc, không cho biết có bao nhiêu người hiểu nội dung, muốn quay lại hoặc sẵn sàng mua vé xem chương trình chuyên đề.

Vì vậy, bên cạnh đưa nghệ thuật ra phố cần có đường dẫn trở lại với nhà hát và không gian thực hành: lịch diễn dễ tìm, giới thiệu bằng ngôn ngữ phù hợp, hoạt động gặp nghệ sĩ, chương trình dành cho học sinh và trích đoạn được chọn theo chủ đề.
Một suất diễn ngắn có thể khơi sự tò mò; một lịch hoạt động nhất quán mới có khả năng biến tò mò thành thói quen thưởng thức. Nhà hát, trường học, doanh nghiệp lữ hành và cơ quan quản lý cần biết họ đang phát triển khán giả cho loại hình nào, thay vì cùng chạy theo chỉ tiêu lượt xem trong sự kiện.
Trường học và cư dân địa phương cần được xem là công chúng lâu dài. Một buổi trải nghiệm hóa trang, động tác và tích tuồng cho học sinh có thể gieo hứng thú ban đầu; hoạt động định kỳ và cơ hội gặp người làm nghề mới giúp hứng thú ấy phát triển.

Tại Hội nghị Xúc tiến phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Đà Nẵng ngày 2.10.2026, Phó Chủ tịch UBND TP. Đà Nẵng Nguyễn Thị Anh Thi, chỉ ra điểm nghẽn không nằm ở tiềm năng mà ở khả năng chuyển tiềm năng thành sản phẩm cạnh tranh.
Bà nhấn mạnh yêu cầu không chỉ tổ chức sự kiện, lễ hội mà phải tạo ra sản phẩm; không chỉ thu hút khách mà phải hình thành thị trường. Với nghệ thuật ra phố, bước chuyển đầu tiên chính là xây dựng được lịch diễn, cách tiếp cận và lớp khán giả có nhu cầu trở lại. Từ một cuộc dừng chân tình cờ đến thói quen thưởng thức là chặng đường cần được đầu tư bền bỉ.
(Còn tiếp)

KHÁNH CHI - ÁNH DƯƠNG; thiết kế: MẠNH LÊ


