Nghi chủ xưởng gỗ gian lận sau vụ cháy, bảo hiểm vẫn phải trả hơn 20,7 tỷ đồng
Chủ cơ sở đồ gỗ ở Hà Nội yêu cầu bảo hiểm sau vụ cháy gây thiệt hại khoảng 35 tỷ đồng nhưng bị từ chối vì nghi gian lận. Cuối cùng, tòa buộc công ty bảo hiểm trả hơn 20,7 tỷ đồng.
Nộp 50 triệu phí bảo hiểm, bị từ chối bồi thường sau vụ cháy
Ngày 10/6/2016, bà Nguyễn Thị P., chủ một cơ sở sản xuất, kinh doanh đồ gỗ nội thất tại huyện Thạch Thất, Hà Nội, ký hợp đồng bảo hiểm hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt với Công ty Bảo hiểm B. thuộc Tổng công ty CP Bảo hiểm B.
Tài sản được bảo hiểm gồm hàng hóa, nguyên vật liệu, nội thất, nhà xưởng, máy móc, thiết bị... Theo hợp đồng ban đầu, số tiền bảo hiểm là 15 tỷ đồng.
Ngày 24/6/2016, hai bên ký văn bản sửa đổi, tăng số tiền bảo hiểm thêm 5 tỷ đồng, nâng tổng mức bảo hiểm lên 20 tỷ đồng. Bà P. đã đóng đủ phí bảo hiểm 50 triệu đồng. Thời hạn bảo hiểm từ ngày 23/6/2016 đến ngày 23/6/2017.
Khoảng 20h20 ngày 3/8/2016, bà M., nhân viên giúp việc cho bà P., phát hiện sự cố chập điện tại khu vực dưới trần xưởng. Đám cháy sau đó lan rộng. Đến 1h30 ngày 4/8, ngọn lửa mới được dập tắt.
Theo kết luận của cơ quan điều tra, nguyên nhân cháy do chập mạch điện trên đường dây dẫn trong nhà xưởng. Vụ cháy khiến toàn bộ nhà xưởng, hàng hóa, thiết bị và máy móc phục vụ sản xuất bị thiệt hại. Bà P. trình bày tổng giá trị thiệt hại khoảng 35 tỷ đồng; riêng số hàng hóa trưng bày tại showroom không bị ảnh hưởng có giá trị khoảng 600 triệu đồng.

Nộp 50 triệu phí bảo hiểm hỏa hoạn, chủ cơ sở đồ gỗ ở Hà Nội bị công ty bảo hiểm từ chối bồi thường sau vụ cháy gây thiệt hại khoảng 35 tỷ đồng. Ảnh minh họa: Nam Khánh
Sau vụ cháy, bà P. yêu cầu Tổng công ty CP Bảo hiểm B. chi trả tiền bảo hiểm theo hợp đồng. Tuy nhiên, trong quá trình xem xét hồ sơ, doanh nghiệp bảo hiểm cho rằng bà P. có dấu hiệu gian lận, trong đó nghi ngờ một số hóa đơn, chứng từ được mua bán để kê khai tăng giá trị tài sản thiệt hại.
Cho rằng bà P. có dấu hiệu trục lợi bảo hiểm, công ty bảo hiểm đã đề nghị cơ quan điều tra xem xét và từ chối bồi thường.
Trong khi đó, bà P. cho hay nhiều sổ sách, hóa đơn, chứng từ mua bán đã bị cháy trong vụ hỏa hoạn. Những tài liệu còn lại đã được cung cấp cho doanh nghiệp bảo hiểm và đơn vị giám định.
Sau quá trình xác minh, ngày 23/11/2017, Công an TP Hà Nội quyết định không khởi tố vụ án hình sự vì không có dấu hiệu tội phạm.
Tổng công ty CP Bảo hiểm B. sau đó khiếu nại. Tuy nhiên, ngày 4/1/2018, Công an TP Hà Nội tiếp tục xác định không đủ cơ sở kết luận bà P. có hành vi gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản của doanh nghiệp bảo hiểm. Vụ việc được xác định là tranh chấp dân sự.
Do không thỏa thuận được về việc bồi thường, bà P. khởi kiện, yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm thanh toán tiền bảo hiểm và lãi chậm trả.
Tại cấp sơ thẩm, TAND quận Ba Đình, Hà Nội chấp nhận yêu cầu của bà P., buộc Tổng công ty CP Bảo hiểm B. thanh toán hơn 20,8 tỷ đồng. Không đồng ý với phán quyết này, doanh nghiệp bảo hiểm kháng cáo toàn bộ bản án.
Cấp phúc thẩm buộc doanh nghiệp bảo hiểm trả hơn 20,7 tỷ đồng
Xem xét vụ án, Tòa án cấp phúc thẩm xác định hợp đồng bảo hiểm giữa bà P. và công ty bảo hiểm được ký kết hợp pháp và có hiệu lực. Bà P. đã thanh toán đầy đủ 50 triệu đồng phí bảo hiểm.
Về lý do từ chối bồi thường do bà P. không xuất trình được sổ sách, hóa đơn theo quy định, HĐXX cho rằng, bà P. là hộ kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán. Theo các quy định được tòa viện dẫn, bà P. không thuộc trường hợp bắt buộc phải có hóa đơn giá trị gia tăng khi mua bán hàng hóa.
Mặt khác, khi ký hợp đồng bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm biết bà P. là hộ kinh doanh cá thể nhưng không có thỏa thuận về phương pháp xác định giá trị hàng hóa bị thiệt hại trong trường hợp không có hóa đơn giá trị gia tăng. Nội dung này cũng không được quy định là điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm.
Trong quá trình giải quyết vụ án, tòa đã xác minh tại các doanh nghiệp bán hàng cho bà P. Các đơn vị đều xác nhận việc mua bán hàng hóa với bà P. là có thật.
Đơn vị giám định S. cũng có mặt tại hiện trường ngay sau vụ cháy và ghi nhận nhà xưởng, máy móc, hàng hóa bị thiệt hại nghiêm trọng. Tuy nhiên, khi đơn vị này đang tiếp tục giám định thì phía công ty bảo hiểm yêu cầu dừng lại vì cho rằng bà P. có hành vi gian dối nhằm trục lợi bảo hiểm.
Tòa phúc thẩm nhận định việc đơn vị giám định không tiếp tục thực hiện giám định là do phía doanh nghiệp bảo hiểm. Vì vậy, Tổng công ty CP Bảo hiểm B. không có căn cứ lấy lý do chưa xác định được đầy đủ giá trị tài sản thiệt hại để từ chối bồi thường.
Theo hợp đồng, tổng số tiền bảo hiểm là 20 tỷ đồng. Sau khi áp dụng mức khấu trừ 10% theo thỏa thuận, mức bảo hiểm tối đa bà P. được hưởng là 18 tỷ đồng.
Tòa xác định số hàng hóa bị thiệt hại được bồi thường là 16,23 tỷ đồng. Thiệt hại về máy móc và nhà xưởng theo kết quả giám định là hơn 638 triệu đồng.
Ngoài ra, doanh nghiệp bảo hiểm phải thanh toán 100 triệu đồng chi phí cứu hỏa, 60 triệu đồng chi phí dọn dẹp hiện trường (sau khi khấu trừ 40 triệu đồng thu được từ bán phế liệu), cùng 109,5 triệu đồng chi phí giám định.
Về tiền lãi chậm thanh toán, cấp phúc thẩm cho rằng, tòa sơ thẩm tính lãi từ thời điểm trước khi xảy ra vụ cháy là không chính xác. Tòa xác định thời điểm tính lãi từ ngày 29/9/2016, sau khi hết thời hạn thanh toán tiền bồi thường theo quy định. Tiền lãi được xác định là hơn 3,63 tỷ đồng.
Từ đó, cấp phúc thẩm sửa một phần bản án sơ thẩm về số tiền và thời điểm tính lãi, buộc Tổng công ty CP Bảo hiểm B. thanh toán cho bà P. tổng cộng hơn 20,7 tỷ đồng.
(Bài viết dựa trên Bản án số 154/2019/DS-PT ngày 20/6/2019 của TAND TP Hà Nội)

