Nghị định 346 nâng hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp lên 95%
Nghị định 346/2026/NĐ-CP nâng mức hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp lên tối đa 95% với hộ nghèo, cận nghèo và mở rộng các sản phẩm bảo hiểm theo chỉ số.

Cá nhân sản xuất nông nghiệp thuộc hộ nghèo, cận nghèo được hỗ trợ tối đa 95% phí bảo hiểm, tăng từ mức 90% trước đây. Ảnh minh họa: TTXVN
Ngày 5/9/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 346/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2018/NĐ-CP ngày 18/4/2018 về bảo hiểm nông nghiệp. Nghị định có hiệu lực từ ngày 20/10/2026, bổ sung các loại hình bảo hiểm theo chỉ số, mở rộng đối tượng được hỗ trợ và điều chỉnh mức hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp.
Theo quy định mới, các loại hình sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp gồm bảo hiểm đối với rủi ro định danh, bảo hiểm mọi rủi ro, bảo hiểm đối với tổn thất về thu nhập, bảo hiểm theo chỉ số năng suất, bảo hiểm theo chỉ số thời tiết, bảo hiểm theo chỉ số viễn thám và các loại hình khác theo thỏa thuận trong hợp đồng.
Trong đó, bảo hiểm theo chỉ số năng suất thực hiện bồi thường dựa trên mức sụt giảm năng suất thực tế của một khu vực địa lý theo thỏa thuận trong hợp đồng, không phụ thuộc vào tổn thất thực tế của đối tượng bảo hiểm.
Bảo hiểm theo chỉ số thời tiết căn cứ vào biến động của các chỉ số như mưa, gió, hạn hán, ngập lụt, rét hại, mưa đá, sương muối, động đất, sóng thần. Trong khi đó, bảo hiểm theo chỉ số viễn thám dựa trên sự biến động của chỉ số viễn thám được thỏa thuận trong hợp đồng.
Nghị định cũng bổ sung quy định về nguồn cung cấp các chỉ số thời tiết và viễn thám. Doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm có thể lựa chọn dữ liệu từ Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia; Hệ thống Thông tin dịch vụ khí hậu của Tổ chức Khí tượng thế giới (WMO); Trung tâm Giám sát nông nghiệp, tài nguyên và môi trường thuộc Cục Viễn thám quốc gia; hoặc các nguồn dữ liệu khác đáp ứng yêu cầu về độ tin cậy và được nhà tái bảo hiểm quốc tế xác nhận hoặc chấp thuận.
Một nội dung đáng chú ý khác là mức hỗ trợ phí bảo hiểm được điều chỉnh theo hướng mở rộng phạm vi thụ hưởng. Cá nhân sản xuất nông nghiệp thuộc hộ nghèo, cận nghèo được hỗ trợ tối đa 95% phí bảo hiểm, tăng từ mức 90% trước đây. Cá nhân sản xuất nông nghiệp không thuộc hộ nghèo, cận nghèo được hỗ trợ tối đa 50%, tăng từ 20%.
Đối với tổ chức sản xuất nông nghiệp, mức hỗ trợ tối đa là 30% phí bảo hiểm. Chính sách này áp dụng đối với doanh nghiệp, tổ hợp tác, hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã khi đáp ứng các điều kiện theo quy định, trong đó có trường hợp có hợp đồng liên kết gắn với sản phẩm nông nghiệp thuộc đối tượng được hỗ trợ hoặc có sản phẩm được chứng nhận về chất lượng, an toàn thực phẩm, được công nhận là doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao hoặc đáp ứng các điều kiện tương ứng theo quy định pháp luật.
Nghị định 346 cũng mở rộng đối tượng bảo hiểm được hỗ trợ. Ngoài cây trồng, vật nuôi và nuôi trồng thủy sản thuộc danh mục quy định trước đây, chính sách mới bổ sung nhóm đối tượng khác, gồm cây trồng, vật nuôi, nuôi trồng thủy sản và cây lâm nghiệp chính, chủ lực thuộc danh mục do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở trung ương công bố.
Về phân cấp, HĐND cấp tỉnh được giao quyết định địa bàn được hỗ trợ, đối tượng bảo hiểm, loại rủi ro được bảo hiểm, mức hỗ trợ và thời gian thực hiện hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp, căn cứ quy định của Nghị định và tình hình thực tế, khả năng cân đối ngân sách của địa phương. UBND cấp xã có trách nhiệm tổ chức tập huấn, tuyên truyền về bảo hiểm nông nghiệp tại các địa bàn được hỗ trợ.
Nghị định đồng thời quy định trình tự, thủ tục phê duyệt đối tượng được hỗ trợ. Hồ sơ có thể được gửi trực tiếp, qua dịch vụ bưu chính hoặc trực tuyến trên môi trường điện tử khi đủ điều kiện.
Đối với lần phê duyệt đầu tiên, UBND cấp xã có 10 ngày làm việc để rà soát, tổng hợp và thẩm định danh sách; sau đó Sở Nông nghiệp và Môi trường có 5 ngày làm việc để tổng hợp, báo cáo UBND cấp tỉnh và UBND cấp tỉnh có 5 ngày làm việc để ban hành quyết định phê duyệt. Danh sách được phê duyệt tiếp tục được UBND cấp xã công khai.
Việc nâng mức hỗ trợ, mở rộng đối tượng và đa dạng hóa sản phẩm bảo hiểm được kỳ vọng tạo thêm điều kiện để người sản xuất nông nghiệp tiếp cận công cụ quản trị rủi ro, nhất là trước tác động của thiên tai, thời tiết và những biến động trong sản xuất.
Đồng thời, việc bổ sung bảo hiểm theo chỉ số và nguồn dữ liệu phục vụ xác định chỉ số tạo cơ sở cho các doanh nghiệp bảo hiểm phát triển thêm sản phẩm phù hợp với đặc thù nông nghiệp.
Nguồn Bnews: https://bnews.vn/nghi-dinh-346-nang-ho-tro-phi-bao-hiem-nong-nghiep-len-95/438378.html
