Nghị quyết 23-NQ/TW: Từ tiềm năng lớn đến nguồn lực thực chất

Hơn 6,5 triệu người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ mang về hàng chục tỷ USD kiều hối mỗi năm, mà còn là nguồn lực lớn về tri thức, công nghệ, kinh nghiệm quản trị và mạng lưới kết nối toàn cầu. Nghị quyết 23-NQ/TW của Bộ Chính trị mở ra cách tiếp cận mới: Từ vận động, thu hút sang đồng hành, kiến tạo; từ khai thác từng nguồn lực riêng lẻ sang xây dựng hệ sinh thái kết nối kiều bào với nhu cầu phát triển trong nước.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm với các đại biểu kiều bào tham dự Chương trình Xuân Quê hương 2026. Ảnh: TTXVN

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm với các đại biểu kiều bào tham dự Chương trình Xuân Quê hương 2026. Ảnh: TTXVN

Nguồn lực lớn chưa được khai thác hết

Hơn 20 năm kể từ khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 36-NQ/TW về công tác người Việt Nam ở nước ngoài, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đã có bước phát triển mạnh mẽ. Từ khoảng 2,7 triệu người sinh sống tại gần 90 quốc gia và vùng lãnh thổ vào năm 2004, đến nay, cộng đồng đã tăng lên hơn 6,5 triệu người, hiện diện tại hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ.

Cùng với sự gia tăng về quy mô là sự chuyển biến về chất lượng. Đội ngũ chuyên gia, trí thức, nhà khoa học, doanh nhân và lao động kỹ thuật cao ngày càng đông đảo; nhiều người có vị thế và đảm nhiệm những vị trí quan trọng trong xã hội, hệ thống chính trị nước sở tại.

Nguồn lực kinh tế từ cộng đồng này cũng ngày càng lớn. Nếu năm 2004, lượng kiều hối chuyển về Việt Nam đạt khoảng 2,3 tỷ USD thì đến năm 2025 đã tăng lên 17,7 tỷ USD. Tính từ năm 1993 đến nay, tổng lượng kiều hối đạt hơn 250 tỷ USD, tương đương quy mô vốn FDI giải ngân trong cùng giai đoạn.

Nhưng nếu chỉ nhìn vào dòng kiều hối, sẽ khó thấy hết giá trị của nguồn lực kiều bào.

Đó còn là tri thức, khoa học - công nghệ, kinh nghiệm quản trị, mạng lưới kinh doanh, quan hệ quốc tế và khả năng kết nối với các trung tâm kinh tế, khoa học, công nghệ lớn trên thế giới. Trong bối cảnh cạnh tranh quốc gia ngày càng dựa nhiều hơn vào tri thức, công nghệ và mạng lưới toàn cầu, đây là nguồn lực có ý nghĩa chiến lược đối với quá trình phát triển của Việt Nam.

Vấn đề đặt ra là làm thế nào để nguồn lực đó được kết nối hiệu quả hơn với nhu cầu phát triển của đất nước.

Đây cũng là điểm mà Nghị quyết 23-NQ/TW của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài hướng tới, với một bước chuyển đáng chú ý trong tư duy phát huy nguồn lực kiều bào.

Theo Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng, điểm mới mang tính nền tảng của Nghị quyết là lần đầu tiên khẳng định người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ là bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam mà còn là một trong những nguồn lực chiến lược quan trọng, góp phần nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia; là cầu nối giữa Việt Nam với thế giới, đồng hành và tham gia trực tiếp vào sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc.

Nếu trước đây công tác người Việt Nam ở nước ngoài chủ yếu nhấn mạnh việc vận động, tập hợp và chăm lo, thì nay tư duy được mở rộng sang đồng hành và kiến tạo. Nhà nước không chỉ khuyến khích kiều bào đóng góp mà cần tạo dựng môi trường, thể chế và cơ chế để họ có thể tham gia sâu hơn vào quá trình phát triển đất nước.

Một trong những điểm đáng chú ý của Nghị quyết 23-NQ/TW là mở rộng phương thức huy động nguồn lực kiều bào. Thay vì chủ yếu thu hút từng cá nhân, từng chuyên gia, doanh nhân về nước, yêu cầu đặt ra là xây dựng cơ sở dữ liệu, mạng lưới và hệ sinh thái kết nối toàn cầu đối với chuyên gia, trí thức, nhà khoa học, doanh nhân và thế hệ trẻ người Việt Nam ở nước ngoài.

Điều này cũng mở rộng cách thức đóng góp. Kiều bào không nhất thiết phải trở về nước làm việc lâu dài mà có thể tham gia từ xa thông qua các dự án nghiên cứu, tư vấn, chuyển giao công nghệ, kết nối đầu tư, đào tạo nhân lực hoặc mở rộng thị trường.

Đánh giá về ý nghĩa của Nghị quyết, Tổng Lãnh sự Việt Nam tại San Francisco (Hoa Kỳ) Hoàng Anh Tuấn cho rằng, Nghị quyết 23-NQ/TW là sự tiếp nối và phát triển của Nghị quyết 36-NQ/TW, tạo thêm động lực trong việc thu hút nguồn lực và chất xám của kiều bào, qua đó nâng cao hiệu quả đóng góp cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Đại sứ Việt Nam tại Liên bang Nga Đặng Minh Khôi cũng nhận định, điểm đổi mới quan trọng nhất của Nghị quyết là sự chuyển biến trong tư duy, từ vận động, thu hút bà con hướng về quê hương sang tạo điều kiện để người Việt Nam ở nước ngoài thực sự tham gia sâu hơn vào sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc. Theo Đại sứ, đây là bước phát triển mang tính chiến lược, phù hợp với yêu cầu của giai đoạn mới.

Xây dựng cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có địa vị pháp lý vững chắc, hòa nhập sâu rộng và phát triển ổn định…; tăng cường vị thế, trách nhiệm, uy tín ở nước sở tại, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nâng cao sức mạnh mềm và uy tín quốc gia.

Trích Nghị quyết 23-NQ/TW

Kiến tạo cơ chế để nguồn lực “chảy” về đúng nơi cần

Nghị quyết 23-NQ/TW đã mở ra không gian mới để phát huy tiềm năng của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Nhưng nếu không có những cơ chế đủ rõ, đủ hấp dẫn và đủ thuận lợi, nguồn lực này vẫn khó chuyển hóa thành những đóng góp cụ thể.

Theo Thứ trưởng Lê Thị Thu Hằng, công tác người Việt Nam ở nước ngoài cần được xác định là một nhiệm vụ quan trọng của đối ngoại phục vụ phát triển, gắn chặt với yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Cùng với đó là yêu cầu tăng cường phối hợp liên ngành, liên lĩnh vực; nâng cao trách nhiệm của các cấp, các ngành và chủ động lồng ghép công tác người Việt Nam ở nước ngoài vào chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển.

Một trong những nhiệm vụ cấp thiết là xây dựng cơ chế kết nối hiệu quả đội ngũ trí thức, chuyên gia kiều bào với các trung tâm nghiên cứu, trường đại học, địa phương và doanh nghiệp trong nước.

Đại sứ Việt Nam tại Nhật Bản Phạm Quang Hiệu cho rằng, các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cần chủ động nhận diện, tập hợp và hình thành mạng lưới chuyên gia, doanh nhân theo từng lĩnh vực; đồng thời kết nối các mạng lưới này với địa phương, doanh nghiệp trong nước để phát triển thành những chương trình hợp tác lâu dài. Xa hơn, các cơ quan đại diện cần từng bước trở thành những trung tâm kết nối tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo của Việt Nam ở nước ngoài.

Muốn làm được điều đó, một hạ tầng quan trọng cần sớm được hình thành là cơ sở dữ liệu số về chuyên gia, nhà khoa học, doanh nhân và các mạng lưới người Việt Nam ở nước ngoài. Đây sẽ là nền tảng để các Bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp chủ động tìm kiếm đúng người, đúng chuyên môn và kết nối đúng nhu cầu.

Ở góc độ thực thi, chính sách cũng phải đủ cụ thể để tạo niềm tin cho kiều bào. Theo Tổng Lãnh sự Việt Nam tại San Francisco Hoàng Anh Tuấn, kiều bào cần được tiếp cận những cơ chế, chính sách ưu đãi cụ thể để yên tâm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và nguồn lực, đóng góp hiệu quả hơn cho đất nước, nhất là trong các lĩnh vực khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Như vậy, bài toán của Nghị quyết 23-NQ/TW không chỉ là thu hút thêm nguồn lực, mà quan trọng hơn là tạo cơ chế để nguồn lực đã có được kết nối và sử dụng hiệu quả.

Hơn 6,5 triệu người Việt Nam ở nước ngoài là một cộng đồng rộng lớn, trải dài trên hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ. Nếu được kết nối bằng một hệ sinh thái chính sách phù hợp, nguồn lực ấy không chỉ trở về qua những dòng kiều hối, mà còn có thể trở về bằng tri thức, công nghệ, vốn, kinh nghiệm quản trị, mạng lưới kinh doanh và những cơ hội hợp tác mới.

Nghị quyết 23-NQ/TW vì thế mở ra một bước chuyển quan trọng: Từ “kiều bào hướng về quê hương” sang “kiều bào đồng hành cùng sự phát triển của đất nước”. Khi tư duy đó được cụ thể hóa bằng thể chế và hành động, nguồn lực kiều bào sẽ có thêm điều kiện trở thành một nguồn lực phát triển thực chất, góp phần củng cố sức mạnh nội sinh và hiện thực hóa khát vọng xây dựng Việt Nam phát triển nhanh, bền vững, hùng cường trong kỷ nguyên mới./.

DIỆU THIỆN

Nguồn Kiểm Toán: https://baokiemtoan.vn/vi/bai-viet/nghi-quyet-23-nqtw-tu-tiem-nang-lon-den-nguon-luc-thuc-chat