Nghị quyết 27-NQ/TW: Tối ưu hóa lợi thế cạnh tranh của từng vùng
Nghị quyết số 27-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt ra định hướng tái cấu trúc không gian phát triển, nhằm tối ưu hóa lợi thế cạnh tranh của từng vùng và từng địa phương trong kỷ nguyên mới.
Tuy nhiên, để đưa các mục tiêu đến năm 2030 và tầm nhìn 2045 từ văn bản vào đời sống, việc tháo gỡ các nút thắt thể chế, cơ chế tài chính và thẩm quyền quản trị vùng là yêu cầu cấp thiết.

Cơ sở hạ tầng ở xã Tà Đùng (Lâm Đồng) được đầu tư phát triển từ chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Ảnh: TTXVN
Tiếp tục hoàn thiện thể chế của vùng và liên vùng
Nghị quyết 27 hướng tới mục tiêu các vùng sẽ vận hành theo mô hình kinh tế xanh, kinh tế số và kinh tế tuần hoàn vào năm 2045, theo Tiến sĩ Lý Hoàng Mai, Trưởng phòng Thể chế kinh tế, Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam), Nghị quyết 27 đã đưa ra quan điểm phát triển coi phát triển vùng là phương thức tổ chức tăng trưởng quốc gia, tổ chức lại không gian phát triển, phân bổ nguồn lực và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia đổi mới mạnh mẽ mô hình phát triển trong bối cảnh mới. Do vậy, việc hoàn thiện thể chế để các mô hình này được triển khai trong thực tiễn là một yêu cầu cấp thiết.
Tiến sĩ Lý Hoàng Mai cho biết, thời gian tới cần tiếp tục hoàn thiện thể chế của vùng và liên vùng để giải quyết các bài toán của thực tiễn về môi trường, nguồn nước, năng lượng, logistics, hạ tầng số, xử lý chất thải, giao thông và chuỗi cung ứng. Đẩy mạnh liên kết vùng bằng việc hình thành cơ chế để chia sẻ dữ liệu vùng, phát triển hạ tầng số dùng chung, xây dựng hệ thống giám sát môi trường và tài nguyên liên vùng. Đồng thời, cần chuyển từ cơ chế khuyến khích riêng lẻ sang cơ chế khuyến khích theo chuỗi giá trị và không gian vùng cho kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn.
Đối với các vùng động lực, Nhà nước cần ưu tiên nguồn lực cho phát triển và trao quyền nhiều hơn như quyền thí điểm, quyền điều phối, quyền huy động nguồn lực để thử nghiệm các mô hình kinh tế xanh, kinh tế số, kinh tế tuần hoàn trên phạm vi cả nước. Trên cơ sở đó, các vùng động lực có thể được thí điểm khung thử nghiệm thể chế có kiểm soát, trong đó xác định rõ phạm vi, thời hạn, chỉ tiêu đầu ra, giới hạn rủi ro và cơ quan giám sát.
Bên cạnh đó, Nhà nước cần thí điểm cơ chế “một hồ sơ - nhiều địa phương” đối với dự án liên tỉnh, kết hợp thẩm định song song và chia sẻ dữ liệu trên nền tảng số; đồng thời xây dựng không gian dữ liệu vùng, phát triển các cụm kinh tế tuần hoàn, năng lượng sạch và hệ thống giám sát phát thải theo khung pháp luật quốc gia. Nhà nước cũng cần bố trí nguồn vốn chuẩn bị dự án để thực hiện nghiên cứu tiền khả thi, đánh giá tác động và xây dựng phương án PPP trước khi huy động ngân sách nhà nước, vốn tư nhân và tài chính xanh. Các cơ chế thí điểm phải bảo đảm yêu cầu về môi trường, an ninh, dữ liệu và được đánh giá bằng những chỉ tiêu cụ thể như thời gian xử lý thủ tục, chi phí logistics, mức giảm phát thải và vốn tư nhân huy động.
Nghị quyết 27 yêu cầu mỗi địa phương phải phát huy tối đa lợi thế riêng để đóng góp vào sự phát triển chung. Để xây dựng được hệ thống hạ tầng liên vùng đồng bộ và thông minh, Tiến sĩ Lý Hoàng Mai, về quyền tài chính đề xuất, Nhà nước cần nghiên cứu thiết lập Quỹ hoặc nguồn vốn dành cho các chương trình, dự án liên kết vùng, được hình thành từ ngân sách trung ương, đóng góp hoặc bố trí từ ngân sách địa phương và các nguồn vốn hợp pháp khác. Nguồn lực tài chính này phải được phân bổ theo nguyên tắc ưu tiên những dự án có tính chất liên vùng, có sức lan tỏa lớn và tạo ra giá trị gia tăng cho nhiều địa phương. Cơ quan điều phối vùng cần được giao quyền đề xuất, lựa chọn, giám sát và đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn lực này theo đúng các quy định của pháp luật.
Về quyền ra quyết định, Hội đồng điều phối vùng cần có đủ thẩm quyền điều phối việc thực những nhiệm vụ của vùng như quy hoạch vùng, yêu cầu và giám sát các địa phương triển khai đúng tiến độ, hiệu quả những nhiệm vụ được phê duyệt, có thẩm quyền phối khi xảy ra các xung đột về lợi ích. Hội đồng điều phối vùng cần tạo ra mô hình quản trị vùng mới từ “xin ý kiến - phối hợp - thống nhất” sang “phân công - cam kết - giám sát - chịu trách nhiệm”. Mỗi chương trình, dự án liên vùng cần xác định rõ địa phương chủ trì, địa phương phối hợp, nguồn vốn, tiến độ, kết quả đầu ra và trách nhiệm giải trình. Trung ương giữ vai trò kiến tạo thể chế, định hướng chiến lược và bảo đảm nguồn lực cho những vấn đề mang tính quốc gia; cơ quan điều phối vùng thực hiện điều phối và giám sát; còn các địa phương được trao quyền chủ động tổ chức thực hiện trong phạm vi quy hoạch và cơ chế đã thống nhất.
Biến đầu tư hạ tầng thành động lực phát triển năng lực công nghiệp

TS Đỗ Nguyên Hưng, Tổng Thư ký Hội Tự động hóa Việt Nam (thành viên Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam) nhìn nhận hạ tầng không chỉ là đối tượng đầu tư mà phải trở thành nền tảng quan trọng cho công nghiệp trong nước. Ảnh: Diệu Thúy/TTXVN
Quan tâm nhất đến nội dung tư duy biến đầu tư hạ tầng thành động lực phát triển năng lực công nghiệp và công nghệ trong nước trong Nghị quyết 27, Tiến sĩ Đỗ Nguyên Hưng, Bí thư Chi bộ - Tổng Thư ký Hội Tự động hóa Việt Nam (thành viên Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam) cho biết, Nghị quyết 27 nêu rõ các công trình đường sắt, năng lượng, đô thị, cảng biển, hạ tầng số phải gắn với phát triển các ngành công nghiệp nội địa (cơ khí, điện-điện tử, tự động hóa, phần mềm, tư vấn thiết kế và quản lý vận hành) qua đó tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam tích lũy công nghệ, kinh nghiệm, năng lực tham gia các công đoạn giá trị gia tăng cao và từng bước làm chủ các dự án lớn.
Tiến sĩ Đỗ Nguyên Hưng cho rằng, đây là một thay đổi rất quan trọng về tư duy phát triển. Hạ tầng không chỉ là đối tượng đầu tư mà phải trở thành nền tảng quan trọng cho công nghiệp trong nước. Với tự động hóa, điều này càng có ý nghĩa vì tự động hóa là công nghệ nền xuyên suốt từ sản xuất, năng lượng, giao thông đến logistics và đô thị thông minh… Nếu chúng ta đầu tư rất lớn nhưng công đoạn thiết kế, điều khiển, tích hợp hệ thống, phần mềm, dữ liệu và bảo trì vẫn phụ thuộc bên ngoài thì quy mô nền kinh tế có thể tăng nhưng năng lực công nghệ nội sinh chưa chắc đã tăng tương ứng. Vì vậy, tinh thần của Nghị quyết 27 rất phù hợp với Nghị quyết 57-NQ/TW, trong đó khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực phát triển quan trọng hàng đầu và doanh nghiệp là một chủ thể trung tâm.
Để biến đầu tư hạ tầng thành động lực phát triển năng lực công nghiệp và công nghệ trong nước, theo Tiến sĩ Đỗ Nguyên Hưng, Nghị quyết 27 đặt phát triển vùng trong một không gian liên kết mới, đồng thời nhấn mạnh phát triển khoa học, công nghệ, nhân lực, hạ tầng số và các chuỗi liên kết giữa khu công nghệ cao, trung tâm nghiên cứu, đào tạo và sản xuất. Vì vậy, Hội Tự động hóa Việt Nam xác định vai trò của mình không chỉ là kết nối mà phải tiến tới điều phối một hệ sinh thái công nghệ theo nhu cầu thực của từng vùng. Trong đó, đối với các vùng, Hội tập trung vào một chu trình khá rõ: bài toán của địa phương và doanh nghiệp kết nối viện, trường và doanh nghiệp công nghệ, kết nối R&D mở và chương trình đào tạo, đào tạo nhân lực, sản xuất, gia công, thương mại hóa và nhân rộng theo chuỗi vùng. Hội Tự động hóa Việt Nam hướng tới thực hiện ba nhiệm vụ trọng tâm: xây dựng bản đồ nhu cầu và năng lực tự động hóa của từng vùng; hình thành các nhóm doanh nghiệp - viện trường để giải quyết những bài toán cụ thể về robot, CNC, AI công nghiệp, Digital Twin… đồng thời xây dựng các trung tâm trình diễn để chuyển công nghệ vào doanh nghiệp.
Theo Tiến sĩ Đỗ Nguyên Hưng, quan trọng nhất là không làm dàn trải. Mỗi vùng cần lựa chọn một số chuỗi có lợi thế và nhu cầu thị trường đủ lớn, sau đó xây dựng doanh nghiệp “đầu tàu”, doanh nghiệp vệ tinh, cơ sở đào tạo và trung tâm công nghệ xung quanh chuỗi đó. Nghị quyết 27 cũng đã xác định khá rõ các ưu tiên công nghiệp khác nhau giữa vùng: Trung du và vùng núi phía Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, và Đồng bằng sông Cửu Long.
“Thước đo cuối cùng không phải là chúng ta nhập được bao nhiêu công nghệ hiện đại, mà là sau mỗi dự án lớn, doanh nghiệp và kỹ sư Việt Nam làm chủ thêm được bao nhiêu công nghệ, bao nhiêu sản phẩm và bao nhiêu khâu có giá trị gia tăng cao. Đó mới là năng lực tự chủ công nghệ thực chất đóng góp hiệu quả khi thực hiện NQ 27-NQ/TW của Bộ Chính trị”, Tiến sĩ Đỗ Nguyên Hưng khẳng định.
