Nghị quyết 57- NQ/TW: Đưa công nghệ vào từng khâu sản xuất

Nghị quyết 57- NQ/TW đang thúc đẩy ngành công thương đưa công nghệ, dữ liệu và tự động hóa vào từng khâu sản xuất, kinh doanh, tạo động lực nâng năng suất và giá trị sản phẩm.

Từ những công đoạn sản xuất còn phụ thuộc nhiều vào thao tác thủ công đến dây chuyền được tự động hóa, từ hồ sơ hành chính được xử lý trực tuyến đến dữ liệu chuyên ngành được kết nối, chia sẻ, Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đang tạo ra những thay đổi ngày càng rõ trong ngành công thương.

Điều đáng chú ý không chỉ nằm ở số lượng nhiệm vụ đã hoàn thành mà ở việc khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang từng bước đi vào những công việc cụ thể, từ cơ quan quản lý đến nhà máy, doanh nghiệp.

Công ty TNHH May Hoài Sơn đầu tư nhiều trang thiết bị giúp giảm phụ thuộc vào lao động thủ công. Ảnh: Bộ Công Thương

Công ty TNHH May Hoài Sơn đầu tư nhiều trang thiết bị giúp giảm phụ thuộc vào lao động thủ công. Ảnh: Bộ Công Thương

Với một ngành có phạm vi quản lý rộng, liên quan trực tiếp đến sản xuất công nghiệp, năng lượng, lưu thông hàng hóa và xuất nhập khẩu, yêu cầu đặt ra không đơn thuần là số hóa một quy trình hay đầu tư thêm một thiết bị.

Điều quan trọng hơn là công nghệ phải giải quyết được những bài toán thực tế, tạo ra năng suất mới, giảm chi phí, nâng chất lượng và giúp doanh nghiệp chủ động hơn trước những thay đổi nhanh của thị trường.

Đây cũng là cách nhìn được kỹ sư Công nghệ thông tin Nguyễn Xuân Đồng, Chủ tịch Công ty cổ phần dữ liệu lượng tử DataQ nhấn mạnh khi nói về việc đưa Nghị quyết 57- NQ/TW vào thực tiễn ngành công thương.

Theo ông, công nghệ cần bắt đầu từ những bài toán doanh nghiệp đang gặp hằng ngày, thay vì triển khai những dự án lớn nhưng thiếu gắn kết với nhu cầu thực tế. Với doanh nghiệp, trước hết cần nhận thức dữ liệu là tài sản, sau đó kiểm kê, xác định dữ liệu quan trọng, bảo vệ, sao lưu, kiểm soát truy cập và từng bước khai thác để tối ưu vận hành, phát hiện rủi ro.

Cách tiếp cận này cho thấy một yêu cầu đang trở nên rõ hơn trong quá trình thực hiện Nghị quyết 57- NQ/TW là chuyển đổi số không thể chỉ dừng ở việc có thêm phần mềm hay thiết bị, mà phải làm thay đổi cách doanh nghiệp vận hành. Công nghệ chỉ thực sự có giá trị khi được đưa vào đúng công đoạn, giải quyết đúng điểm nghẽn và tạo ra kết quả có thể đo đếm được.

Bên trong nhà máy sản xuất của Công ty TNHH Phát triển Khoa học Quốc tế Trường Sinh. Ảnh: Bộ Công Thương

Bên trong nhà máy sản xuất của Công ty TNHH Phát triển Khoa học Quốc tế Trường Sinh. Ảnh: Bộ Công Thương

Từ năm 2025 đến ngày 16/6/2026, trong 287 nhiệm vụ được giao thực hiện Nghị quyết 57- NQ/TW, Bộ Công Thương đã hoàn thành 158 nhiệm vụ, 30 nhiệm vụ đang triển khai đúng tiến độ, 99 nhiệm vụ thường xuyên và không có nhiệm vụ quá hạn.

Những kết quả này cho thấy việc triển khai nghị quyết đã chuyển dần từ khâu quán triệt, xây dựng kế hoạch sang tổ chức thực hiện với nhiệm vụ, tiến độ và đầu ra cụ thể.

Thế nhưng nếu chỉ nhìn vào số nhiệm vụ hoàn thành thì chưa thể thấy hết những thay đổi đang diễn ra bởi chuyển biến quan trọng của ngành là tư duy quản lý đang dần chuyển từ xử lý hồ sơ sang quản trị bằng dữ liệu.

Cơ sở dữ liệu kinh tế công nghiệp và thương mại đã được kết nối kỹ thuật, đồng bộ với Trung tâm Dữ liệu quốc gia; cơ sở dữ liệu hàng hóa, hóa chất, tiền chất công nghiệp đã tạo lập khoảng 204.000 dữ liệu và đang được làm sạch để chuẩn bị tích hợp dữ liệu hóa chất, giấy phép hóa chất lên VNeID.

Ở góc độ doanh nghiệp, sự thay đổi có thể cảm nhận rõ hơn qua cải cách thủ tục hành chính. Bộ Công Thương đã cắt giảm 55,34% thủ tục hành chính, giảm 30,7% chi phí tuân thủ, 33,18% thời gian giải quyết và khoảng 30% điều kiện đầu tư, kinh doanh. Toàn bộ 509 thủ tục hành chính của Bộ đã được cấu hình trên Cổng Dịch vụ công quốc gia và Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của Bộ.

Những con số này đều hướng tới một thay đổi rất thực tế: doanh nghiệp bớt thời gian chờ đợi, bớt giấy tờ và có thêm nguồn lực dành cho sản xuất, kinh doanh. Chuyển đổi số vì thế không còn là câu chuyện riêng của hệ thống công nghệ mà đã bắt đầu tác động trực tiếp đến môi trường hoạt động của doanh nghiệp.

Ở phía sản xuất, công nghệ đang được đưa vào từng khâu theo những cách khác nhau. Tại Công ty cổ phần Bóng đèn Phích nước Rạng Đông, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được xác định là động lực then chốt, doanh nghiệp từng bước tái cấu trúc sản xuất theo hướng thông minh, lấy công nghệ và dữ liệu làm nền tảng.

Công nghệ không chỉ nằm trong sản phẩm mà được đưa trực tiếp vào dây chuyền sản xuất, góp phần nâng năng suất, ổn định chất lượng và rút ngắn thời gian đưa sản phẩm ra thị trường.

Từ nền tảng đó, Rạng Đông phát triển hệ sinh thái chiếu sáng thông minh ứng dụng IoT, làm chủ thiết kế, bo mạch điều khiển và phần mềm quản lý. Việc chuyển từ sản xuất truyền thống sang sản xuất thông minh không chỉ giúp nâng hiệu quả dây chuyền mà còn mở ra hướng chuyển dịch từ bán sản phẩm đơn thuần sang cung cấp giải pháp và dịch vụ.

Nghị quyết số 57-NQ/TW được hiện thực hoá từng bước trong hoạt động sản xuất, kinh doanh..Ảnh: Bộ Công Thương

Nghị quyết số 57-NQ/TW được hiện thực hoá từng bước trong hoạt động sản xuất, kinh doanh..Ảnh: Bộ Công Thương

Câu chuyện tại Rạng Đông là ví dụ ở quy mô doanh nghiệp lớn nhưng yêu cầu đổi mới công nghệ cũng đang xuất hiện ngày càng rõ ở các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ. Tại Gia Lai, nhiều doanh nghiệp lựa chọn những giải pháp vừa sức, bắt đầu từ chính những điểm nghẽn trong sản xuất, quản lý và bán hàng.

Ở lĩnh vực may mặc, Công ty TNHH May Hoài Sơn, phường Hoài Nhơn Bắc, tỉnh Gia Lai đang đầu tư thiết bị theo từng công đoạn để giảm sự phụ thuộc vào lao động thủ công, đáp ứng yêu cầu về chất lượng và tiến độ của thị trường xuất khẩu.

Doanh nghiệp hiện có khoảng 500 lao động, sản phẩm chủ yếu xuất khẩu sang Mỹ. Trong đó, hệ thống máy nối chun tự động giúp năng suất tăng khoảng hai lần, đồng thời nâng độ chính xác trong sản xuất.

Năm 2026, doanh nghiệp tiếp tục mở rộng khoảng 6.900 m2 nhà xưởng, kho bãi và dự kiến tăng khoảng 100 lao động, song song với đầu tư công nghệ và nâng chất lượng sản phẩm.

Từ một công đoạn cụ thể trong dây chuyền may có thể thấy rõ hơn cách Nghị quyết 57 đi vào đời sống doanh nghiệp.

Công nghệ ở đây không phải một khái niệm xa xôi mà là một chiếc máy giúp tăng năng suất, giảm thao tác thủ công, nâng độ chính xác và tạo điều kiện để doanh nghiệp đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao của khách hàng. Khi từng công đoạn được cải tiến, toàn bộ quy trình sản xuất có thêm cơ sở để thay đổi.

Cũng tại Gia Lai, Công ty TNHH Phát triển Khoa học Quốc tế Trường Sinh từng bước chuyển một số công đoạn thủ công sang sản xuất công nghiệp, sử dụng phần mềm trong quản lý, điều hành và tiếp cận AI phục vụ sản xuất, kinh doanh.

Với Nguyễn Hân Coffee Farm, công nghệ được đưa vào cả khâu chế biến và bán hàng, từ đầu tư thiết bị, áp dụng kỹ thuật mới đến đưa sản phẩm lên các kênh trực tuyến và mạng xã hội. Những cách làm khác nhau nhưng đều xuất phát từ một yêu cầu chung là nâng năng lực cạnh tranh bằng công nghệ.

Với kỹ sư Nguyễn Xuân Đồng, những doanh nghiệp nhỏ cũng có thể trở thành một mắt xích quan trọng trong quá trình hình thành hệ sinh thái công nghệ.

Ông Đồng cho rằng không nhất thiết phải bắt đầu bằng những dự án quy mô lớn; doanh nghiệp có thể thử nghiệm từ những bài toán cụ thể, đưa sản phẩm ra thị trường thật và cải thiện dần.

Khi những sản phẩm công nghệ do doanh nghiệp Việt Nam phát triển có cơ hội được thử nghiệm và sử dụng trong thực tế, quá trình làm chủ công nghệ sẽ có thêm động lực.

Tuy nhiên, để công nghệ đi sâu hơn vào doanh nghiệp, vẫn còn những điểm nghẽn cần được tháo gỡ. Theo kỹ sư Nguyễn Xuân Đồng, chi phí, nhân lực và nhận thức là ba vấn đề đáng lưu ý. Nhiều giải pháp công nghệ, nhất là trong lĩnh vực an ninh mạng, còn có chi phí cao; doanh nghiệp vừa và nhỏ thiếu nhân lực chuyên môn để vận hành; trong khi không ít doanh nghiệp vẫn xem an ninh mạng hay dữ liệu là vấn đề riêng của bộ phận công nghệ thông tin thay vì một phần của năng lực quản trị.

Những vấn đề này cũng đặt ra yêu cầu đối với chính sách hỗ trợ doanh nghiệp. Nếu công nghệ chỉ dừng ở việc giới thiệu giải pháp thì khó tạo ra chuyển biến lớn. Điều doanh nghiệp cần hơn là môi trường để thử nghiệm, tiếp cận công nghệ phù hợp, có nhân lực vận hành và có thị trường cho sản phẩm mới.

Theo bà Nguyễn Thị Lâm Giang, Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công (Bộ Công Thương), việc thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW không chỉ dừng ở hoàn thành các nhiệm vụ theo kế hoạch mà quan trọng hơn là tạo chuyển biến thực chất về tư duy quản trị, phương thức điều hành và năng lực đổi mới sáng tạo.

Từ đó, Bộ Công Thương tập trung vào những nhiệm vụ có tác động lớn, có sản phẩm đầu ra cụ thể, thúc đẩy doanh nghiệp nâng cấp, chuyển giao công nghệ và tăng cường liên kết Nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp.

Cách lựa chọn công nghệ vì thế cũng được đặt trong mối quan hệ chặt chẽ hơn với thị trường. Với các công nghệ, sản phẩm công nghệ chiến lược, yêu cầu đặt ra là phải xác định rõ sản phẩm đầu ra, khách hàng đầu tiên, tiêu chuẩn kỹ thuật, mục tiêu chi phí, tỷ lệ nội địa hóa và lộ trình phát triển. Đây là cách để rút ngắn khoảng cách từ nghiên cứu đến sản xuất, tránh tình trạng công nghệ được tạo ra nhưng thiếu doanh nghiệp tiếp nhận hoặc không tìm được thị trường.

Cùng với sản xuất, thương mại cũng đang thay đổi nhanh dưới tác động của công nghệ.

Tại Gia Lai, ngành công thương hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã đưa sản phẩm lên các sàn thương mại điện tử như Shopee, Lazada, Postmart, Voso; tổ chức livestream quảng bá sản phẩm OCOP (Chương trình Mỗi xã một sản phẩm) và từng bước hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận các nền tảng thương mại điện tử xuyên biên giới.

Với những cơ sở nhỏ, đây có thể là bước đi đơn giản nhưng tạo ra sự thay đổi lớn: sản phẩm địa phương không còn bó hẹp trong thị trường truyền thống mà có thể tiếp cận khách hàng ở nhiều địa phương khác thông qua môi trường số.

Ở tầm rộng hơn, Bộ Công Thương đang tập trung vào ba bài toán lớn gồm bảo đảm an ninh năng lượng, hiện đại hóa hệ thống điện và nhiên liệu theo hướng xanh, thông minh; nâng cao năng lực tự chủ công nghiệp, tỷ lệ nội địa hóa và giá trị trong chuỗi sản xuất; đồng thời hiện đại hóa thương mại trong nước và ngoài nước thông qua dữ liệu, logistics thông minh và các chuỗi cung ứng tin cậy.

Đây đều là những lĩnh vực mà nếu không có công nghệ, rất khó tạo ra bước chuyển về năng suất và năng lực cạnh tranh.

Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Sinh Nhật Tân nhấn mạnh: Ngành đã có nhiều sản phẩm khoa học, công nghệ được ứng dụng, song để duy trì động lực tăng trưởng cần có thêm những sản phẩm nổi trội, hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao hơn. Nghị quyết 57- NQ/TW vì vậy không chỉ đặt ra yêu cầu thay đổi phương thức quản lý mà còn mở ra cách tiếp cận mới đối với sản xuất, kinh doanh.

Từ máy nối chun trong nhà máy may ở Gia Lai, hệ thống dữ liệu được kết nối, dây chuyền sản xuất thông minh tại doanh nghiệp công nghiệp đến những sản phẩm công nghệ do doanh nghiệp Việt phát triển có thể thấy điểm chung đang hình thành là công nghệ ngày càng được nhìn từ hiệu quả thực tế.

Đó là thủ tục được rút ngắn, công đoạn được tự động hóa, dữ liệu được khai thác tốt hơn hay sản phẩm mới được làm chủ đều là những kết quả cụ thể của quá trình chuyển đổi. Đây  cũng là hướng triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW mà ngành công thương đang từng bước thực hiện.

Uyên Hương/Bnews/vnanet.vn

Nguồn Bnews: https://bnews.vn/nghi-quyet-57-nq-tw-dua-cong-nghe-vao-tung-khau-san-xuat/437100.html