Nghị quyết 57 trên cao nguyên đá: Khi công nghệ mở đường cho văn hóa và sinh kế

LONGFORM - THÁNG 10.2026 LỜI TÒA SOẠN

Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào vị trí động lực quan trọng của phát triển đất nước. Từ một chủ trương lớn đến đời sống ở cơ sở, điều đáng quan tâm không chỉ là có thêm bao nhiêu thiết bị, phần mềm hay nền tảng số, mà là công nghệ có thực sự giúp thay đổi phương thức quản trị, mở rộng sinh kế và nâng cao năng lực của người dân hay không.

Trên Cao nguyên đá Đồng Văn (tỉnh Tuyên Quang), những chuyển động ấy đang hiện diện qua nhiều câu chuyện cụ thể: một cán bộ xã dùng nền tảng số để đưa sản vật, nghề thủ công và câu chuyện bản làng tới công chúng; một trưởng thôn cùng người dân bước vào môi trường du lịch ngày càng số hóa; những cộng đồng tìm cách nâng chất lượng dịch vụ mà không đánh mất kiến trúc, tiếng nói, phong tục và không gian sống; những thử nghiệm biến di sản thành sinh kế; hay bài toán sử dụng dữ liệu để quản trị điểm đến hiệu quả hơn.

Qua chuyên đề “Nghị quyết 57 trên cao nguyên đá: Khi công nghệ mở đường cho văn hóa và sinh kế”, Thể thao và Văn hóa tìm hiểu cách khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang đi vào một vùng đất giàu di sản. Xuyên suốt chuyên đề là một câu hỏi: làm thế nào để công nghệ không đứng ngoài đời sống, mà trở thành công cụ giúp chính quyền quản trị tốt hơn, người dân chủ động hơn, sinh kế được mở rộng và những giá trị văn hóa làm nên sức sống của miền đá tiếp tục được gìn giữ trong quá trình phát triển.

NGHỊ QUYẾT 57 TRÊN CAO NGUYÊN ĐÁ

BÀI 1CHỦ TỊCH XÃ “TRIỆU VIEW”: KHI CHUYỂN ĐỔI SỐ BẮT ĐẦU TỪ NHỮNG CHUYẾN XUỐNG BẢN

Giữa nhịp chuyển đổi số đang diễn ra ngày càng sâu rộng, công nghệ đã vượt khỏi phạm vi của những hệ thống kỹ thuật hay phần mềm chuyên dụng để đi vào nhiều công việc rất cụ thể ở cơ sở. Có cán bộ sử dụng nền tảng số để tương tác với người dân, có địa phương đưa nông sản lên môi trường trực tuyến, cũng có những người tận dụng điện thoại, máy quay và mạng xã hội để giới thiệu văn hóa, sản vật, điểm đến tới công chúng.

Ở Đồng Văn, tỉnh Tuyên Quang, ông Phạm Đức Nam - Chủ tịch UBND xã - đang áp dụng cách làm như vậy. Sau những ngày giải quyết hàng loạt công việc của chính quyền cơ sở, vào thứ bảy, Chủ nhật, ông lại cùng hai bạn trẻ mang máy quay, thiết bị thu âm, lóc cóc trên chiếc xe máy cũ tìm tới những thôn xa để ghi lại một nghề thủ công, một sản vật hay câu chuyện văn hóa ít người biết. Một số video sau đó thu hút hàng triệu lượt xem, nhận được nhiều bình luận và chia sẻ từ người xem trong và ngoài nước.

Ông Phạm Đức Nam tại Hội nghị bàn giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục năm học 2026-2027 xã Đồng Văn. Ảnh: Cao Ngọc Hồi

Ông Phạm Đức Nam tại Hội nghị bàn giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục năm học 2026-2027 xã Đồng Văn. Ảnh: Cao Ngọc Hồi

Nhưng điều đáng quan tâm hơn những con số trên màn hình là câu hỏi phía sau cách làm ấy: Vì sao một người cán bộ xã lại dành ngày nghỉ để tìm chất liệu và học cách kể câu chuyện quê hương trên môi trường số? Công nghệ có thể giúp ích gì cho những cộng đồng nằm xa trung tâm? Và làm thế nào để từ lượt xem, tương tác và sự chú ý trên mạng có thể từng bước hình thành cơ hội cho sản phẩm, du lịch và sinh kế của người dân?

Theo chân ông Nam trong một chuyến đi cuối tuần, phóng viên Thể thao và Văn hóa nhận ra chuyển đổi số ở cấp cơ sở đôi khi bắt đầu từ những việc nhỏ hơn rất nhiều so với những gì người ta thường hình dung.

Từ Nghị quyết 57 đến câu hỏi “mình có thể làm gì?”

Điểm hẹn của phóng viên Thể thao và Văn hóa với ông Phạm Đức Nam vào một buổi sáng cuối tuần là trụ sở UBND xã Đồng Văn. Hai thành viên trẻ trong nhóm kiểm tra điện thoại, thiết bị ghi âm và một số đồ nghề gọn nhẹ. Không có ê-kíp chuyên nghiệp hay phương tiện tác nghiệp cầu kỳ. Chiếc xe máy cũ đã qua nhiều năm sử dụng vẫn là phương tiện ông Nam chọn cho những chuyến đi vào các thôn có đường nhỏ, nơi xe máy thuận tiện hơn.

Nhìn lịch làm việc của một xã sau sắp xếp đơn vị hành chính, câu hỏi đầu tiên phóng viên đặt ra khá tự nhiên: Tại sao ngày nghỉ, ông không dành cho gia đình hoặc đơn giản là nghỉ ngơi?

Ông Nam cho biết khi mô hình chính quyền địa phương hai cấp đi vào hoạt động, phạm vi nhiệm vụ của cấp xã mở rộng đáng kể. Đất đai, xây dựng, nông nghiệp, giáo dục, an sinh xã hội, văn hóa, du lịch cùng những vấn đề phát sinh hằng ngày từ thôn bản khiến quỹ thời gian của cán bộ cơ sở phải được tính toán rất chặt chặt chẽ, chi tiết.

‹ Prev Next ›

‹ Prev Next ›

‹ Prev Next ›

‹ Prev Next ›

‹ Prev Next ›

‹ Prev Next ›

‹ Prev Next ›

‹ Prev Next ›

Đường vào thôn Khó Già. Ảnh: Huy Thông

Bởi vậy, ngay từ đầu ông xác định việc làm nội dung trên mạng không được ảnh hưởng tới nhiệm vụ chuyên môn. Ngày thường dành cho công việc cơ quan; những chuyến “xuống cơ sở đi quay” chủ yếu được bố trí vào thứ bảy, Chủ nhật hoặc ngoài giờ. Có tháng, cả nhóm chỉ thu xếp được một, hai ngày để đi thực tế.

“Làm thêm việc này thì phải tự tìm quỹ thời gian. Không thể vì đi quay video mà để chậm công việc của cơ quan”, ông nói.

Lý do khiến ông Nam duy trì những chuyến đi không nằm ở chuyện thích quay phim. Nhiều năm làm việc tại vùng cao cho ông cơ hội tới nhiều thôn bản và nhận ra một nghịch lý: địa phương sở hữu khá nhiều giá trị đặc sắc, trong khi người bên ngoài chưa biết tới đầy đủ.

Đó có thể là kỹ thuật làm một đồ dùng đã tồn tại qua nhiều thế hệ, một cách canh tác, một món ăn gắn với mùa vụ, một sản vật có chất lượng nhưng thị trường còn hẹp, hoặc một người cao tuổi đang giữ những tri thức mà lớp trẻ ngày càng ít người biết.

“Trước đây, khoảng cách địa lý là trở ngại lớn đối với quá trình quảng bá. Một sản vật nằm sâu trong bản muốn ra thị trường ngoài tỉnh phải đi qua nhiều khâu. Một câu chuyện văn hóa muốn được biết tới thường cần những chương trình giới thiệu có tổ chức. Mạng xã hội đã phần nào thay đổi khoảng cách ấy: hình ảnh từ một thôn vùng cao có thể xuất hiện trên màn hình của hàng trăm nghìn người trong thời gian ngắn”.

Ông Phạm Đức Nam - Chủ tịch UBND xã Đồng Văn

Cùng theo chân Chủ tịch xã Đồng Văn lội ruộng bắt cá chép giữa ruộng lúa chín vàng. Clip: Kênh Tiktok “Nam Chủ tịch xã Đồng Văn”

Đây cũng là điểm ông Nam liên hệ với Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. 

Theo ông, ở cấp cơ sở, Nghị quyết không nên được hiểu đơn giản bằng việc có thêm bao nhiêu thiết bị hay phần mềm. Quan trọng hơn là cán bộ thay đổi cách nghĩ, biết lựa chọn công nghệ phù hợp để giải quyết một nhu cầu thực tế, sau đó giúp người dân từng bước có khả năng sử dụng chính những công cụ ấy.

“Điện thoại giờ rất phổ biến. Nếu biết sử dụng đúng, mình có thể giới thiệu hình ảnh quê hương, văn hóa và sản phẩm của bà con đến nhiều người hơn. Cán bộ có thể làm trước, nhưng về lâu dài người dân phải tự làm được”, ông Nam chia sẻ.

Cách nghĩ này gặp một trong những tinh thần quan trọng của Nghị quyết 57: người dân và doanh nghiệp là trung tâm, chủ thể, nguồn lực và động lực quan trọng của quá trình đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; Nhà nước giữ vai trò dẫn dắt, thúc đẩy và tạo điều kiện.

Vì thế, mục tiêu của ông Nam không dừng ở việc xây dựng một kênh có nhiều người xem. Điều ông muốn thử nghiệm là một cách làm có thể lan ra cộng đồng: cán bộ học trước, ứng dụng công nghệ vào một bài toán cụ thể của địa phương, sau đó từng bước chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm cho người dân.

Muốn kể được câu chuyện số, trước hết phải xuống bản

Trên đường xuống bản, ông Nam gần như không nhắc tới những video từng đạt hàng triệu lượt xem. Ông nói nhiều hơn về nơi cả nhóm sắp tới, về một người dân lớn tuổi còn giữ cách chế tác âu, bát gỗ thủ công và lý do ông muốn ghi lại nghề ấy.

“Có những thứ bà con nhìn thấy từ nhỏ nên thấy bình thường. Nhưng người ở nơi khác có khi chưa bao giờ biết tới. Muốn làm nội dung thì mình phải tìm ra được giá trị trong những điều rất bình thường ấy”, ông Nam nói.

Đó cũng là cách nhóm lựa chọn đề tài. Những phong cảnh quen thuộc, địa điểm check-in hay lễ hội lớn đã có rất nhiều hình ảnh trên mạng. Thứ ông Nam muốn đi sâu hơn là đời sống phía sau những bức ảnh đẹp: người dân làm gì, sinh kế ra sao, một sản phẩm được tạo nên thế nào và những tri thức nào đang có nguy cơ ít người tiếp nối.

Ông Nam làm clip về món Mèn Mèn của đồng bào dân tộc Mông ở cao nguyên đá. Clip: Kênh Tiktok “Nam Chủ tịch xã Đồng Văn”

Theo ông, chuyển đổi số trong quảng bá văn hóa và du lịch không nên biến thành cuộc chạy đua tạo hình ảnh bóng bẩy. Nếu nội dung trên mạng khác quá xa thực tế, du khách khi tới nơi dễ thất vọng, trong khi cộng đồng lại bị đặt vào tình thế phải “diễn” cho phù hợp với hình ảnh đã được tạo ra.

Bởi vậy, nhóm hạn chế yêu cầu người dân làm lại các hoạt động chỉ để có khuôn hình đẹp. Người đang làm việc tiếp tục công việc của mình, người lớn tuổi nói bằng cách của họ; căn nhà, bếp lửa hay dụng cụ lao động được ghi lại trong trạng thái đời thường.

“Người xem bây giờ rất nhạy”, ông Nam nói. “Mình nói quá hoặc dựng quá lên thì họ nhận ra. Quê mình thế nào nên kể đúng như thế. Cái gì đặc sắc thì giới thiệu, cái gì chưa tốt thì tiếp tục làm cho tốt hơn”.

Cách làm video như vậy đem lại thêm một lợi ích mà ban đầu có thể không được tính tới. Muốn quay được một nghề, người cán bộ phải ngồi xuống hỏi chuyện người giữ nghề. Muốn giới thiệu một nông sản, phải biết nó được trồng ở đâu, đầu ra thế nào, người dân đang gặp khó khăn gì. Một cuộc trao đổi ban đầu để chuẩn bị video nhiều khi dẫn sang chuyện đường giao thông, nước sinh hoạt, sản xuất, trường học hay đời sống của một gia đình.

Ông Nam không coi việc làm nội dung trên mạng xã hội là phương thức quản lý hành chính. Tuy nhiên, ông thừa nhận những chuyến ghi hình khiến mình tới cơ sở nhiều hơn, ở lâu hơn và nghe được những câu chuyện khó hiện ra đầy đủ trong văn bản báo cáo.

“Xuống thôn, bản thì bao giờ cũng hiểu việc hơn. Muốn giới thiệu cho đúng, mình phải biết bà con đang sống thế nào, cái mình quay có thực sự là giá trị của họ hay do mình tự nghĩ ra”, ông nói.

Ở góc độ ấy, câu chuyện chuyển đổi số lại trở về một yêu cầu rất truyền thống đối với cán bộ cơ sở: gần dân và hiểu dân. Công nghệ không thay thế chuyến đi xuống bản; nó giúp những gì được nhìn thấy, ghi nhận trong chuyến đi có thêm một con đường để đến với nhiều người.

Một chiếc âu gỗ và lớp dữ liệu của đời sống văn hóa

Điểm đến hôm ấy là căn nhà của một người dân lớn tuổi vẫn còn sử dụng bộ dụng cụ thủ công để chế tác những chiếc âu, bát bằng gỗ.

Bộ tiện được làm từ gỗ và một số chi tiết kim loại đơn giản, vận hành bằng sức người. Một người tạo chuyển động cho trục, người tiện giữ dụng cụ để gọt từng lớp gỗ. Công việc diễn ra chậm, đòi hỏi kinh nghiệm, có sản phẩm mất phần lớn thời gian trong ngày mới hoàn thành.

‹ Prev Next ›

‹ Prev Next ›

‹ Prev Next ›

‹ Prev Next ›

‹ Prev Next ›

‹ Prev Next ›

‹ Prev Next ›

‹ Prev Next ›

‹ Prev Next ›

‹ Prev Next ›

Tận mục nghệ nhân làm âu, bát gỗ hoàn toàn thủ công. Ảnh: Huy Thông

Ông Nam ngồi xuống cạnh người thợ, hỏi chiếc máy có từ bao giờ, trong gia đình còn ai biết cách sử dụng, lớp trẻ có muốn học nghề hay không và một sản phẩm phải trải qua những công đoạn nào. Hai thành viên trẻ ghi lại toàn bộ quá trình bằng những thiết bị gọn nhẹ.

Nhìn bề ngoài, đây chỉ là tư liệu cho một video. Nhưng xét rộng hơn, những đoạn hình ấy cũng là một dạng dữ liệu về đời sống văn hóa của cộng đồng: hình ảnh người làm nghề, kỹ thuật, dụng cụ, cách sử dụng sản phẩm và không gian nơi nghề tồn tại.

Nghị quyết 57 đặt dữ liệu vào nhóm nội dung trọng tâm của chuyển đổi số. Ở cấp xã, khái niệm tưởng như lớn ấy có thể bắt đầu từ những việc rất cụ thể: địa phương có biết mình đang sở hữu những tài nguyên văn hóa, nông nghiệp và du lịch nào? Những thông tin đó có được ghi nhận, số hóa, cập nhật và giới thiệu một cách chính xác hay không?

Một nghề không được ghi lại có thể dần mất cùng người nắm giữ nó. Một sản phẩm không xuất hiện trên môi trường số có thể bỏ lỡ một phần thị trường. Một điểm đến thiếu thông tin đáng tin cậy dễ phụ thuộc vào những nội dung do người ngoài tự tạo, đôi khi thiếu chính xác hoặc đơn giản hóa quá mức.

‹ Prev Next ›

‹ Prev Next ›

‹ Prev Next ›

‹ Prev Next ›

‹ Prev Next ›

‹ Prev Next ›

‹ Prev Next ›

‹ Prev Next ›

‹ Prev Next ›

‹ Prev Next ›

Một nghề không được ghi lại có thể dần mất cùng người nắm giữ nó. Một sản phẩm không xuất hiện trên môi trường số có thể bỏ lỡ một phần thị trường. Ảnh: Huy Thông

Clip ông Nam và ekip tận mục nghệ nhân người Mông tiện âu, bát gỗ thủ công. Clip: Kênh Tiktok “Nam Chủ tịch xã Đồng Văn”

Từ câu chuyện chiếc âu gỗ, ông Nam cũng nhìn thấy giới hạn của công nghệ. Mạng xã hội có thể đưa nghề thủ công tới rất nhiều người, nhưng ông không muốn toàn bộ giá trị văn hóa bị “nén” lại trong vài phút video. Có người từng gợi ý đưa người thợ cùng bộ dụng cụ ra khu trung tâm để trình diễn, thuận tiện cho khách xem. Ông Nam cho rằng cách đó có thể tăng khả năng tiếp cận, song trải nghiệm sẽ mất đi một phần bối cảnh.

“Tôi nghĩ người thực sự quan tâm nên có cơ hội tới tận nơi, nhìn người dân sống và làm nghề như thế nào. Khi đó họ hiểu sản phẩm sâu hơn. Món đồ họ mua sẽ gắn với cả câu chuyện của chuyến đi”, ông nói.

Công nghệ, theo cách hiểu ấy, không thay thế không gian văn hóa mà làm nhiệm vụ giới thiệu, cung cấp thông tin, khơi gợi nhu cầu rồi dẫn người quan tâm tới trải nghiệm thực. Số hóa giúp mở rộng khả năng tiếp cận, nhưng giá trị cốt lõi vẫn nằm trong con người, sản phẩm và đời sống của cộng đồng.

Khi “triệu view” chưa phải đích đến

Sau những chuyến đi, hai thành viên trẻ đảm nhận phần lớn công việc chọn hình, dựng và xử lý âm thanh. Ông Nam cùng xem lại nội dung, kiểm tra thông tin trước khi video được đăng lên TikTok, YouTube hay Facebook.

Một ngày thực địa đôi khi chỉ tạo ra vài phút thành phẩm. Có những đoạn phim ngắn thu hút lượng xem lớn; sau đó xuất hiện các bình luận hỏi về địa điểm, đường đi, sản phẩm, cách mua hàng hoặc bày tỏ mong muốn tới Đồng Văn trải nghiệm.

Ở góc độ truyền thông, đó là kết quả đáng chú ý. Nhưng ông Nam cho rằng nếu dừng ở lượt xem, ý nghĩa của chuyển đổi số vẫn còn hạn chế.

“Một triệu người xem rồi lướt qua thì vẫn mới là truyền thông. Tôi quan tâm hơn việc sau đó có người tìm hiểu về Đồng Văn, hỏi mua sản phẩm hoặc muốn tới trải nghiệm hay không”.

Ông Phạm Đức Nam - Chủ tịch UBND xã Đồng Văn

Đây cũng là lý do ông muốn câu chuyện không dừng ở một kênh cá nhân. Nếu một hộ làm homestay biết tự giới thiệu dịch vụ, người trồng cây biết kể câu chuyện về sản phẩm, một hợp tác xã có thể đưa hàng hóa lên nền tảng số, hay thanh niên trong thôn biết sử dụng công nghệ để giới thiệu văn hóa của chính cộng đồng mình, hiệu quả sẽ rộng hơn nhiều so với việc một tài khoản có lượng người theo dõi lớn.

Người dân hiểu sản phẩm của họ nhất. Khi họ tự quay được, tự giới thiệu được, biết tìm khách hàng và tiếp nhận phản hồi, công nghệ bắt đầu trở thành một kỹ năng sản xuất mới. Từ nội dung số có thể dẫn tới thông tin sản phẩm; từ thông tin tới giao dịch; từ một lượt xem tới khả năng hình thành một chuyến đi hoặc tiêu thụ một mặt hàng.

Ông Phạm Đức Nam, Chủ tịch UBND xã Đồng Văn trả lời phỏng vấn phóng viên báo Thể thao và Văn hóa

Ông Phạm Đức Nam, Chủ tịch UBND xã Đồng Văn trả lời phỏng vấn phóng viên báo Thể thao và Văn hóa

Tất nhiên, khoảng cách giữa một lượt xem và giá trị kinh tế thực tế không ngắn. Một sản vật muốn bán được cho khách ngoài địa phương cần chất lượng ổn định, bao bì, thông tin xuất xứ và cách giao hàng. Một nghề thủ công muốn trở thành sản phẩm trải nghiệm cần có người làm nghề, cách tổ chức đón khách và cơ chế để người giữ nghề thực sự được hưởng lợi.

Bởi vậy, cái đích ông Nam hướng tới không phải tạo thêm nhiều video “triệu view”, mà hình thành một cộng đồng ngày càng có khả năng sử dụng công nghệ để tự kể câu chuyện, tự kết nối với thị trường và chủ động hơn trong quá trình phát triển.

Từ sự chú ý trên mạng tới giá trị giữ lại cho cộng đồng

Câu chuyện của Nghị quyết 57 ở Đồng Văn vì thế không kết thúc ở chiếc điện thoại.

Công nghệ có thể giúp địa phương mở rộng khả năng tiếp cận, nhưng để sự chú ý trên mạng chuyển thành giá trị kinh tế, phần việc phía sau lớn hơn nhiều. Chính ở đây, Nghị quyết số 26-NQ/TW về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới tạo ra một mạch nối đáng chú ý.

Nghị quyết 26 xác định phát triển du lịch phải dựa trên ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, đồng thời lấy văn hóa làm nền tảng cốt lõi, bản sắc và chất lượng trải nghiệm làm lợi thế cạnh tranh. Điều này có nghĩa một video được nhiều người xem chưa phải thành quả cuối cùng. Nếu khách biết tới Đồng Văn nhưng chỉ ghé qua rất nhanh, ít sử dụng dịch vụ và sản phẩm địa phương thì phần giá trị giữ lại cho cộng đồng vẫn hạn chế.

“Mình phải tính tiếp người dân được gì. Khách tới thì có ở lâu hơn không, có mua sản phẩm của bà con không, có tạo thêm việc làm không. Nếu công nghệ giúp kéo sự quan tâm về địa phương nhưng sinh kế không thay đổi thì vẫn chưa đủ”.

Ông Phạm Đức Nam, Chủ tịch UBND xã Đồng Văn

Clip ông Nam và ekip đến Giàng Xì Tủng, nơi được ví như một “bảo tàng sống” của cao nguyên đá. Clip: Kênh Tiktok “Nam Chủ tịch xã Đồng Văn”

Đồng Văn có mật ong bạc hà, nông sản, sản phẩm chăn nuôi, nghề thủ công và nhiều giá trị văn hóa có thể tham gia sâu hơn vào chuỗi du lịch. Nhưng để sản vật trở thành hàng hóa có giá trị cao hơn cần thêm chế biến, bao bì, tiêu chuẩn chất lượng và câu chuyện thương hiệu; muốn một nghề thủ công trở thành sản phẩm trải nghiệm cần có cách tổ chức đón khách phù hợp.

Công nghệ có thể hỗ trợ nhiều mắt xích, từ truyền thông, bản đồ hóa điểm đến, đặt dịch vụ, nhận phản hồi đến kết nối khách hàng và hình thành dữ liệu phục vụ quản trị. Song quyết định cuối cùng vẫn nằm ở chất lượng thực tế.

“Trên mạng có thể quảng bá rất nhanh, nhưng khách tới một lần rồi thất vọng thì lần sau rất khó. Chuyển đổi số phải đi cùng chất lượng sản phẩm và cách phục vụ”, ông Nam chia sẻ.

Với một xã vùng cao, mối liên hệ giữa Nghị quyết 57 và bài toán phát triển du lịch không nhất thiết phải bắt đầu từ những dự án công nghệ lớn. Nó có thể bắt đầu từ việc cán bộ biết dùng nền tảng số tốt hơn; người dân có kỹ năng giới thiệu sản phẩm; thông tin về văn hóa, điểm đến được cung cấp chính xác; các hộ kinh doanh từng bước tiếp cận khách hàng trên môi trường mạng; và phản hồi từ thị trường được sử dụng để cải thiện chất lượng.

Từ một người làm trước tới cộng đồng cùng làm

Kết thúc chuyến đi, ông Nam và hai bạn trẻ kiểm tra lại những đoạn hình vừa quay. Có cảnh được giữ, có đoạn phải bỏ; một số chi tiết cần hỏi lại người dân trước khi dựng thành video.

Ngày thực địa rồi sẽ được thu gọn vào vài phút trên màn hình. Nhưng nhìn toàn bộ hành trình, phần đáng chú ý nhất có lẽ không nằm ở việc một Chủ tịch xã biết làm TikTok hay một video đạt bao nhiêu triệu lượt xem.

Điểm đáng quan tâm hơn là sự thay đổi trong cách một cán bộ cơ sở nhìn công nghệ. Thay vì xem chuyển đổi số như phần việc dành riêng cho cán bộ kỹ thuật, ông Nam thử tìm một nhu cầu của địa phương rồi lựa chọn công cụ phù hợp. Thay vì chờ một chương trình quảng bá quy mô lớn, nhóm dùng thiết bị sẵn có để bắt đầu. Và thay vì giữ cách làm ở một tài khoản cá nhân, ông hướng tới việc người dân, thanh niên, hợp tác xã và hộ kinh doanh có thể từng bước làm chủ những kỹ năng ấy.

‹ Prev Next ›

‹ Prev Next ›

‹ Prev Next ›

‹ Prev Next ›

‹ Prev Next ›

‹ Prev Next ›

‹ Prev Next ›

‹ Prev Next ›

Đường Hạnh Phúc ở thôn Khó Già Ảnh: Huy Thông

Những chuyến xuống bản của ông Nam vì thế vẫn bắt đầu từ một câu hỏi khá giản dị: ở đây còn điều gì đáng quý mà người bên ngoài chưa biết? Công nghệ giúp câu trả lời đi xa hơn, nhưng giá trị của chuyển đổi số không dừng ở chỗ một video được bao nhiêu người xem. Phần việc khó hơn nằm ở khả năng biến sự chú ý thành nhu cầu tìm hiểu, biến nhu cầu thành thị trường cho sản phẩm và dịch vụ, đồng thời giúp ngày càng nhiều người dân có đủ kỹ năng để tự kể câu chuyện của mình.

Khi quá trình ấy diễn ra, công nghệ mới thực sự trở thành một phần của năng lực phát triển ở cơ sở.

- CÒN NỮA -

Bài viết và trình bày: HUY THÔNGBÁO THỂ THAO VÀ VĂN HÓA

Nguồn Báo Thể Thao & Văn Hóa: https://thethaovanhoa.vn/nghi-quyet-57-tren-cao-nguyen-da-khi-cong-nghe-mo-duong-cho-van-hoa-va-sinh-ke-20261007205112003.htm