Nghị quyết 80-NQ/TW: Bước đột phá trong tư duy phát triển văn hóa Việt Nam
Ngày 15-4, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội tổ chức Hội thảo khoa học quốc gia 'Phát triển văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới: Lý luận và thực tiễn từ Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị'. Hội thảo nhằm làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn để đưa văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần, động lực nội sinh và trung tâm của phát triển trong bối cảnh mới.
Dự hội thảo có Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Giám đốc Thường trực Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Lê Hải Bình; cùng sự tham gia của nhiều học giả, nhà nghiên cứu, giảng viên, nhà quản lý văn hóa - nghệ thuật và văn nghệ sĩ trên cả nước.

Hội thảo khoa học quốc gia “Phát triển văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới: Lý luận và thực tiễn từ Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị”. Ảnh: BTC
Hoàn thiện thể chế để khơi thông nguồn lực văn hóa
Báo cáo đề dẫn tại hội thảo, PGS.TS Đinh Công Tuấn, Phó Hiệu trưởng phụ trách Trường Đại học Văn hóa Hà Nội cho biết, hội thảo được tổ chức trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu ngày càng cao về chất lượng tăng trưởng, năng lực cạnh tranh quốc gia, sức mạnh nội sinh và khát vọng phát triển nhanh, bền vững.
Trong bối cảnh đó, Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7-1-2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam có ý nghĩa như một dấu mốc quan trọng, thể hiện bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về vị trí, vai trò của văn hóa và con người trong chiến lược phát triển đất nước. Điểm mới nổi bật của Nghị quyết là đặt văn hóa và con người vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển quốc gia. Văn hóa được nhìn nhận không chỉ là một lĩnh vực giá trị, một không gian tinh thần, mà còn là nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực sáng tạo, sức mạnh mềm quốc gia và hệ điều tiết cho phát triển nhanh, bền vững.

PGS.TS Đinh Công Tuấn, Phó Hiệu trưởng phụ trách Trường Đại học Văn hóa Hà Nội phát biểu. Ảnh: BTC
PGS.TS Đinh Công Tuấn cho biết thêm, điểm mới nổi bật của Nghị quyết số 80-NQ/TW là tiếp cận phát triển văn hóa theo tinh thần tích hợp, hiện đại và liên ngành; gắn chặt văn hóa với khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, công nghiệp văn hóa, du lịch văn hóa, giáo dục, đối ngoại, xây dựng thương hiệu quốc gia và bảo vệ chủ quyền văn hóa trên không gian số.
Tại hội thảo, các đại biểu tập trung bàn luận về vấn đề thể chế hóa triển khai Nghị quyết 80-NQ/TW. Theo Thạc sĩ Nguyễn Thu Nhi (Học viện Chính trị khu vực II, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh), Nghị quyết số 80-NQ/TW được đánh giá là bước phát triển mới trong tư duy lý luận của Đảng về văn hóa. Nghị quyết khẳng định văn hóa là “kết tinh những giá trị tốt đẹp của dân tộc trong tiến trình hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước”, đồng thời là nguồn lực nội sinh quan trọng, góp phần hun đúc trí tuệ, tâm hồn và bản lĩnh con người Việt Nam. Nghị quyết cũng đặt ra yêu cầu cao về thể chế hóa đường lối văn hóa thành chính sách, pháp luật, tạo hành lang pháp lý đồng bộ, thúc đẩy phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới.
Theo Thạc sĩ Nguyễn Thu Nhi, bên cạnh những kết quả đạt được, tiến độ thể chế hóa còn chậm, thiếu đồng bộ; nhiều chủ trương chưa được luật hóa kịp thời, đặc biệt trong các lĩnh vực mới như văn hóa số, công nghiệp sáng tạo. Một số văn bản pháp luật còn thiếu tính khả thi, chồng chéo với các lĩnh vực liên quan, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Đáng chú ý, đầu tư cho văn hóa chưa tương xứng với yêu cầu phát triển, nguồn lực còn phân tán, phụ thuộc chủ yếu vào ngân sách nhà nước. Trong khi đó, bộ máy quản lý và năng lực cán bộ ở một số địa phương còn hạn chế, việc xử lý vi phạm chưa kịp thời.
Từ thực trạng này, bà Nguyễn Thu Nhi cho rằng, nhiều vấn đề cấp bách được đặt ra để triển khai hiệu quả Nghị quyết 80-NQ/TW, như: Hoàn thiện thể chế trong bối cảnh chuyển đổi số; bảo đảm cân bằng giữa quản lý và sáng tạo; xây dựng cơ chế huy động nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa; gắn kết giữa chính sách và thực thi; đồng thời bảo tồn bản sắc văn hóa trong hội nhập quốc tế.

Phó Giám đốc Thường trực Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Lê Hải Bình phát biểu. Ảnh: BTC
Trong khi đó, TS Phan Thành Nhâm, Khoa Lý luận chính trị, Trường Đại học Kinh tế Hà Nội phân tích, Nghị quyết 80-NQ/TW nhấn mạnh vai trò dẫn dắt của nguồn lực nhà nước và vị trí then chốt của thể chế. Điều này cho thấy nhà nước cần tập trung đầu tư vào những kết cấu nền tảng mà thị trường khó có thể tự cung cấp đầy đủ, đồng thời xây dựng môi trường pháp lý thông thoáng, khuyến khích các nguồn lực xã hội tham gia phát triển văn hóa.
Đồng thời, bà Phan Thanh Nhàn cho rằng, từ góc nhìn thực tiễn, vai trò kiến tạo của nhà nước trong phát triển văn hóa cần được cụ thể hóa theo một số định hướng trọng tâm. Trước hết, cần nhanh chóng chuyển hóa tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW vào hệ thống pháp luật, chiến lược ngành và chương trình hành động. Bên cạnh đó, cần ưu tiên xây dựng hạ tầng dữ liệu văn hóa quốc gia theo hướng liên thông, chuẩn hóa, an toàn và dùng chung, làm nền tảng cho quản trị văn hóa hiện đại. Cùng với đó, chính sách phát triển công nghiệp văn hóa cần tiếp cận theo hướng hệ sinh thái, chú trọng đồng bộ các yếu tố như sáng tạo, nhân lực, công nghệ, bản quyền và thị trường, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh, xây dựng sức mạnh mềm văn hóa quốc gia.
Phát triển văn hóa, con người trong kỷ nguyên số
Trước tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhiều đại biểu cũng đưa ra các luận điểm về phát triển văn hóa, con người trong kỷ nguyên số.
Theo TS Nguyễn Thị Thu Hà (Trường Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải), cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang làm biến đổi căn bản cấu trúc phát triển của thế giới, không chỉ ở phương diện công nghệ mà còn ở chiều sâu đời sống xã hội. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng khẳng định quá trình này “tác động sâu sắc đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội trên phạm vi toàn cầu”, qua đó hình thành môi trường phát triển mới với những đặc trưng nổi bật như số hóa, kết nối toàn cầu và tương tác đa chiều.

Phát huy nguồn lực văn hóa Việt Nam. Ảnh BTC
Đáng chú ý, những biến đổi này không chỉ dừng lại ở hạ tầng kỹ thuật mà còn tác động trực tiếp đến hệ giá trị, phương thức nhận thức và hành vi của con người. Công nghệ số đang làm thay đổi cách con người tiếp cận thông tin, giao tiếp, sáng tạo và tham gia vào các hoạt động kinh tế - xã hội.
Theo TS Nguyễn Thị Thu Hà, nếu xây dựng được nền tảng văn hóa số vững chắc, con người sẽ không chỉ là đối tượng tiếp nhận thông tin mà còn trở thành chủ thể làm chủ không gian tư tưởng. Khi đó, văn hóa không chỉ giữ vai trò bảo vệ bản sắc mà còn là công cụ định hướng nhận thức, củng cố niềm tin và nâng cao năng lực thích ứng của xã hội trước những biến động nhanh chóng của thời đại. Vì vậy, việc tái cấu trúc hệ giá trị văn hóa và phát triển con người trong kỷ nguyên số không chỉ là yêu cầu cấp thiết về giáo dục, đào tạo mà còn là nhiệm vụ mang tính chiến lược, quyết định khả năng giữ vững nền tảng tư tưởng và bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.
TS Nguyễn Thị Thu Hà cũng phân tích, con người Việt Nam được tái định vị là chủ thể sáng tạo, kiến tạo và dẫn dắt phát triển. Mô hình phát triển mới đòi hỏi con người không chỉ tiếp nhận tri thức mà còn tạo sinh tri thức và đổi mới sáng tạo. Vai trò trung tâm của con người vì thế được nâng lên một tầm cao mới: Từ “thụ hưởng” sang “kiến tạo”, từ “thích ứng” sang “dẫn dắt”.
Về vấn đề này, PGS.TSKH Lương Đình Hải, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Con người cho rằng, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, đặc biệt với những thành tựu của cách mạng khoa học - công nghệ và các cuộc cách mạng công nghiệp, hệ giá trị Việt Nam luôn có sự tác động qua lại với các hệ giá trị chung của nhân loại. Nhiều giá trị mới được du nhập, tiếp biến, tác động mạnh mẽ đến quá trình bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống. Vì vậy, việc tham khảo kinh nghiệm quốc tế trong xây dựng hệ giá trị cốt lõi là yêu cầu tất yếu.
TS Lê Thị Cúc (Trường Đại học Văn hóa Hà Nội) cho rằng, Nghị quyết số 80-NQ/TW kế thừa tư tưởng của các nghị quyết trước đó và diễn đạt đầy đủ hơn khi khẳng định: Phát triển văn hóa, con người là nền tảng, là nguồn lực nội sinh quan trọng và là động lực của phát triển nhanh, bền vững; đồng thời xác định rõ con người là “trung tâm, chủ thể, mục tiêu, động lực của phát triển”. Nghị quyết cũng gắn phát triển con người thời đại mới với đổi mới sáng tạo, môi trường số và yêu cầu phát triển trong kỷ nguyên mới; nhấn mạnh việc phát huy giá trị văn hóa, khuyến khích sáng tạo, hình thành công chúng văn hóa hiện đại và phát triển không gian sáng tạo nội dung số.
“Có thể thấy, quan điểm của Đảng ngày càng coi trọng việc hình thành con người có khả năng thích ứng, sáng tạo và hành động có trách nhiệm trong xã hội hiện đại”, TS Lê Thị Cúc nhận định.
Tại hội thảo, các tham luận tập trung vào 5 nhóm vấn đề chính: Hoàn thiện thể chế và đổi mới phương thức quản lý văn hóa; xây dựng hệ giá trị quốc gia và con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới; bảo vệ và phát huy giá trị di sản gắn với xây dựng thương hiệu; phát triển công nghiệp văn hóa có sức cạnh tranh; đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Các tham luận và ý kiến tại hội thảo thể hiện sự đồng thuận cao trong việc khẳng định vị thế mới của văn hóa trong chiến lược phát triển đất nước.
Phát biểu kết luận, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Giám đốc Thường trực Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Lê Hải Bình đánh giá, các tham luận đã thể hiện sự sâu sắc, tâm huyết, đồng thời đề xuất nhiều giải pháp thiết thực nhằm thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 80-NQ/TW.
Các ý kiến, giải pháp này sẽ phục vụ trực tiếp công tác tham mưu cho các bộ, ngành trong quá trình triển khai Nghị quyết; đồng thời là cơ sở để các địa phương tham khảo, vận dụng linh hoạt, phù hợp với thực tiễn.











