NGHỊ QUYẾT 80-NQ/TW: 'CHÌA KHÓA' GIẢI PHÓNG NGUỒN LỰC VĂN HÓA HUẾ - KỲ 2: 'Kho báu' chưa thành nguồn lực

Tài sản văn hóa lớn, nhưng khai thác được bao nhiêu và tạo ra nguồn lực cho phát triển lại là chuyện khác. Đây cũng là vấn đề Cố đô Huế phải nhìn thẳng khi đặt di sản vào yêu cầu phát triển mới.

Dự án Bảo tồn, tu bổ và phát huy giá trị tổng thể di tích lăng Vua Thiệu Trị được triển khai qua ba giai đoạn, với tổng mức đầu tư gần 150 tỷ đồng. Giai đoạn 1 thực hiện từ năm 2005, kinh phí 4,1 tỷ đồng; giai đoạn 2 hoàn thành năm 2025, kinh phí 40,7 tỷ đồng; giai đoạn 3 có tổng mức đầu tư hơn 60,6 tỷ đồng, dự kiến hoàn thành trong năm nay.

Tại một cuộc khảo sát thực địa ở điểm di tích thuộc Quần thể di sản này, Phó Trưởng đoàn ĐBQH chuyên trách TP. Huế Nguyễn Thị Sửu đặt ra hàng loạt câu hỏi: Lượng khách đến riêng khu vực lăng Thiệu Trị là bao nhiêu? Giá trị khai thác thay đổi thế nào sau mỗi giai đoạn đầu tư? Ai đánh giá hiệu quả sau đầu tư? Nếu nguồn lực bỏ ra chưa tương xứng thì bước tiếp theo sẽ là gì? Sau khi đầu tư, di tích được khai thác như thế nào và hiệu quả ấy được đo bằng gì?

Những câu hỏi tưởng như chỉ dành cho một công trình cụ thể lại chạm đến vấn đề lớn hơn trong câu chuyện phát triển kinh tế di sản. Nhiều năm qua, Huế dành nguồn lực đáng kể để bảo tồn, tu bổ di tích. Nhưng sau khi một công trình được trả lại diện mạo, bước tiếp theo là gì? Nếu chỉ dừng ở nghiệm thu công trình và mở cửa đón khách, chúng ta mới khai thác được giá trị trực tiếp, trong khi dư địa kinh tế phía sau còn rất lớn.

Đây không phải câu chuyện riêng của lăng Thiệu Trị mà còn là yêu cầu đặt ra khi Huế nhìn vào khối tài sản văn hóa đang có. Một đô thị có hệ thống di sản đặc biệt phong phú đương nhiên phải ưu tiên bảo tồn. Nhưng trong yêu cầu phát triển mới, bảo tồn phải song hành với mở đường cho những giá trị mới, miễn việc khai thác đảm bảo tính toàn vẹn và giá trị cốt lõi của di sản.

Đặt vấn đề ở khâu chuyển hóa nguồn lực, TS.KTS Nguyễn Thu Hạnh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Công nghiệp Văn hóa Việt Nam (S- DCI) cho rằng, Huế giàu “nguyên liệu”, nhưng nguyên liệu phong phú không tự tạo ra giá trị. Nếu di sản chủ yếu được bảo tồn, trưng bày, thuyết minh và đưa vào các tour tham quan, phần lớn chúng ta vẫn đang khai thác giá trị đã được tạo nên trong quá khứ, trong khi năng lực sáng tạo giá trị mới trên nền di sản còn hạn chế.

Festival Huế là một ví dụ. Mô hình Festival bốn mùa, cùng các chương trình áo dài, nghệ thuật, ẩm thực, lễ hội đã góp phần làm dày thương hiệu văn hóa của thành phố. Nhưng câu hỏi không chỉ là một kỳ Festival có bao nhiêu chương trình hay thu hút bao nhiêu người. Điều đáng quan tâm hơn là sau khi sân khấu tắt đèn, bao nhiêu sản phẩm tiếp tục sống, bao nhiêu dịch vụ tiếp tục bán, bao nhiêu việc làm được duy trì và bao nhiêu thương hiệu mới được hình thành.

PGS.TS Bùi Hoài Sơn - Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội nhấn mạnh nhìn vấn đề theo hướng ấy: một lễ hội không nên kết thúc khi sự kiện kết thúc. Giá trị thực sự của nó nằm ở khả năng tạo ra chuỗi dịch vụ, hàng hóa sáng tạo, việc làm và thương hiệu.

Như vậy, câu hỏi sau đầu tư không còn đơn giản là “di tích đã đẹp hơn chưa”, mà phải tiến thêm một bước: di sản sau bảo tồn đã tạo thêm những giá trị gì cho cộng đồng và nền kinh tế địa phương? Đó là bước chuyển từ tư duy quản lý một tài sản sang tư duy kiến tạo giá trị trên nền tài sản ấy.

Nhìn từ thực tế, di sản tiếp tục là một trong những nền tảng quan trọng của du lịch Huế. Trong 8 tháng của năm 2026, thành phố đón gần 6 triệu lượt khách, tăng 26,4% so với cùng kỳ; doanh thu du lịch đạt gần 13.790 tỷ đồng. Những con số ấy cho thấy sức hút của điểm đến và vai trò rõ rệt của tài nguyên văn hóa trong việc kích hoạt du lịch - dịch vụ. 

Nhưng từ góc nhìn công nghiệp văn hóa, tăng lượt khách và tăng doanh thu du lịch chưa đủ để trả lời câu hỏi di sản đã được chuyển hóa thành nguồn lực đến mức nào. Một di sản tuy được bảo tồn tốt nhưng chỉ khai thác bằng phương thức quen thuộc thì giá trị gia tăng vẫn có giới hạn.

Theo Nghị quyết 55/2025/NQ-HĐND của HĐND thành phố quy định phí tham quan Quần thể di tích Cố đô Huế được phân chia giữa ngân sách nhà nước và Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế. Với số thu đến 500 tỷ đồng/năm, Trung tâm để lại 45%, phần còn lại nộp ngân sách; phần thu vượt 500 tỷ đồng nộp toàn bộ vào ngân sách. Từ năm 2022 đến nay, phí tham quan nộp ngân sách đạt gần 724 tỷ đồng; thành phố đã bố trí hơn 634 tỷ đồng triển khai gần 70 dự án trùng tu, tôn tạo di tích, di sản.

Báo cáo của Chính phủ về tổng kết việc thực hiện Nghị quyết số 38/2021/QH15 về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù của Huế chỉ ra, nguồn thu vẫn phụ thuộc lớn vào khả năng phục hồi của ngành du lịch và thị trường khách, trong khi nhu cầu bảo tồn hệ thống di sản, hạ tầng kỹ thuật rất lớn, nhiều công trình cần nguồn vốn đầu tư thường xuyên, lâu dài. Vì vậy, nguồn thu từ phí tham quan vẫn chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu bảo tồn.

Ở góc độ này không chỉ cho thấy khả năng tự tạo nguồn lực của di sản, mà còn bộc lộ giới hạn của mô hình khai thác hiện nay: nguồn tiền tạo ra từ di sản đang phụ thuộc chủ yếu vào lượng khách và khả năng chi trả của thị trường, trong khi nhu cầu bảo tồn không ngừng tăng lên.

Nếu không hình thành thêm những dòng giá trị mới từ sản phẩm, dịch vụ và hoạt động sáng tạo dựa trên di sản, nguồn thu từ tham quan khó có thể trở thành nền tảng đủ rộng cho một hệ sinh thái kinh tế văn hóa.

Nguồn lực từ di sản không chỉ được tạo ra ở quầy bán vé. Từ tiền vé quay lại trùng tu đến một làng nghề tìm được thị trường và tạo sinh kế, chính là bước chuyển từ “nguồn thu” sang “nguồn lực”. Hoa giấy Thanh Tiên cho thấy một lát cắt khác. Phan Ngọc Hiếu, nhà sáng lập Maypaperflower kể rằng, khi sản phẩm được truyền thông rộng hơn, gắn với hoạt động du lịch và tìm được thị trường, sức sống của làng nghề thay đổi; những dịp cao điểm lễ, Tết, nghệ nhân làm không kịp đơn hàng.

Bảo tồn lúc ấy không còn giữ một kỹ thuật thủ công trong ký ức mà là tạo điều kiện để nghề sống bằng thị trường, người thợ có thu nhập và thế hệ sau yên tâm nhận trách nhiệm kế nghiệp.

Từ trường hợp của Maypaperflower cho thấy, giá trị do văn hóa tạo ra không dừng ở doanh thu trực tiếp mà còn lan sang nhiều hoạt động kinh tế khác. Điều đó cũng đặt ra yêu cầu phải nhìn rộng hơn khi đo đóng góp của văn hóa.

Bà Trần Thị Hoài Trâm, nguyên Giám đốc Sở Du lịch, cho rằng khi đánh giá đóng góp của văn hóa và du lịch cần nhìn rộng hơn doanh thu lưu trú, ăn uống hay lượng khách. Một du khách đến Huế còn chi cho vận chuyển, mua sắm sản phẩm làng nghề, thưởng thức nghệ thuật, chăm sóc sức khỏe và nhiều dịch vụ khác. Giá trị từ di sản vì vậy lan sang nhiều ngành kinh tế, nhưng để nhận diện đúng cần có phương pháp đo lường đủ sâu.

Do đó, chuyển từ “bảo tồn di sản” sang “bảo tồn để phát triển, phát triển để di sản tiếp tục sống trong đời sống đương đại”, như bà Nguyễn Thị Sửu nhấn mạnh, không phải là hạ thấp yêu cầu bảo tồn. Ngược lại, đó là cách tạo thêm nguồn lực xã hội để bảo tồn bền vững hơn.

Theo các khảo sát giai đoạn 2022 - 2024, thời gian lưu trú bình quân của du khách tại Huế dao động từ 1,7 - 1,77 ngày, với mức chi tiêu khoảng 2,1 triệu đồng/lượt khách. Đến năm 2025, thời gian lưu trú đạt 2,2 ngày, mức chi tiêu tăng lên 2,6 - 2,8 triệu đồng/lượt. Năm 2026, ngành du lịch đặt mục tiêu nâng thời gian lưu trú lên 2,3 - 2,5 ngày và mức chi tiêu đạt 2,8 - 3 triệu đồng/lượt.

Những con số trên đặt ra câu hỏi: Huế có nhiều điểm đến, nhưng đã có đủ sản phẩm để giữ chân du khách, tăng mức chi tiêu hay không? Vì vậy, hiệu quả khai thác di sản không chỉ nhìn vào lượng khách mà còn ở thời gian lưu trú, mức chi tiêu và phần giá trị được giữ lại tại địa phương.

Điều Huế còn thiếu không chỉ sản phẩm, mà là cách làm ra những sản phẩm có giá trị từ tài nguyên văn hóa. Đưa chất liệu di sản vào thiết kế, thời trang, quà tặng hay nội dung số chỉ là bước đầu; quan trọng hơn, sản phẩm phải bán được, người làm ra nó có thu nhập, giá trị sáng tạo được bảo vệ.

Gợi mở về sản phẩm áo dài, nhà nghiên cứu mỹ thuật Nguyễn Đức Bình - Chủ nhiệm Câu lạc bộ Đình làng Việt nói rằng: “Áo dài có thể kết nối từ dệt, nhuộm, cắt may, thêu, thiết kế đến du lịch, nhiếp ảnh, quà tặng và truyền thông. Từ bán chiếc áo đơn thuần, có thể tiến đến bán một trải nghiệm văn hóa. Du khách đến Huế có thể tìm hiểu lịch sử áo ngũ thân, gặp nghệ nhân, chọn chất liệu, may đo, mặc áo trong không gian di sản và mua những sản phẩm thủ công, phụ kiện liên quan. Giá trị kinh tế khi đó sẽ lan sang du lịch trải nghiệm, thủ công, mỹ thuật, nhiếp ảnh, thiết kế và truyền thông”.

“Nếu hình dung chuỗi giá trị áo dài Huế, có thể đi từ: nghiên cứu - bảo tồn - đào tạo nghề - thiết kế - dệt, nhuộm, may đo - thương hiệu - trình diễn - du lịch trải nghiệm - quà tặng văn hóa - thương mại điện tử - xuất khẩu và ngoại giao văn hóa”, ông Bình phác họa.

Đánh giá tổng quan, theo TUV, Phó Chủ tịch UBND thành phố Trần Hữu Thùy Giang, giá trị gia tăng từ di sản chưa tương xứng với tiềm năng; việc khai thác vẫn chủ yếu dựa vào tham quan và nguồn thu bán vé, trong khi chưa hình thành nhiều sản phẩm, dịch vụ có khả năng tạo doanh thu thường xuyên và giá trị cao từ biểu diễn nghệ thuật, kinh tế đêm, bản quyền, thiết kế, thời trang, quà tặng, nội dung số và trải nghiệm sáng tạo.

PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội cho rằng, cần xem hệ thống di sản vật thể, phi vật thể, nghệ thuật cung đình, nghề thủ công, ẩm thực, áo dài, kiến trúc, cảnh quan và ký ức đô thị của Huế như một hệ sinh thái văn hóa. Khi được kết nối với công nghệ, doanh nghiệp và thị trường, những chất liệu ấy có thể trở thành nguyên liệu cho điện ảnh, thời trang, hoạt hình, trò chơi, thiết kế và các sản phẩm du lịch trải nghiệm.

Trong chuỗi chuyển hóa đó, ông Cung Trọng Cường, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển TP. Huế, Giám đốc Hue Innovation Hub nhận định: nguồn lực đang bị đánh giá thấp nhất là tri thức và sức sáng tạo. Thành phố phải học cách nhìn mình không chỉ như nơi lưu giữ những giá trị đã có, mà còn là nơi có khả năng “sản xuất” ra những giá trị văn hóa mới. Khi các chủ thể cùng đứng trong một chuỗi, di sản mới có cơ hội bước ra khỏi phạm vi của một “đối tượng tham quan”.

Tiến sĩ Hong Seung Mo, Giám đốc điều hành Công ty PoSTMEDIA (Hàn Quốc), đơn vị phối hợp thực hiện các dự án ứng dụng công nghệ số và đào tạo về Công nghệ Văn hóa (Culture Technology) tại Huế nhận định, phía sau mỗi di sản là những câu chuyện về nhân vật, sự kiện, cuộc sống và ký ức mà công chúng có thể tiếp cận. Phần lớn những tự sự có chiều sâu ấy vẫn chưa được công chúng toàn cầu biết đến rộng rãi. Nếu kết hợp với AI hay truyền thông không gian (spatial media), chúng có thể được mở rộng thành sản phẩm giáo dục, nội dung văn hóa, công nghiệp sáng tạo và những trải nghiệm du lịch mới.

Một phần “kho báu” của Huế đã được khai mở, nhưng giá trị tạo ra vẫn còn khiêm tốn so với tiềm năng. Nguyên nhân đã thấy, muốn tài nguyên trở thành nguồn lực, cần tìm ra điểm nghẽn xem dòng chảy phát triển đang bị chặn ở đâu để tháo gỡ.

KỲ III: NGHẼN Ở KHÂU TỔ CHỨC 

Nguồn Thừa Thiên Huế: https://huengaynay.vn/e-magazine/nghi-quyet-80-nq-tw-chia-khoa-giai-phong-nguon-luc-van-hoa-hue-ky-2-kho-bau-chua-thanh-nguon-luc-170166.html