Nghị quyết dựng mái trường liên cấp - Nâng bước học sinh biên giới (Bài 2)
Bài 2: Xây dựng trường học từ lòng dân
Để 11 mái trường nội trú liên cấp được dựng lên giữa miền biên viễn Cao Bằng, việc đầu tiên là cần mặt bằng xây trường. Với sự lãnh đạo sát sao của cấp ủy, chính quyền, phương pháp dân vận kiên trì, công khai và trách nhiệm, hàng trăm hộ dân đồng thuận bàn giao mặt bằng, có gia đình tự nguyện hiến đất, chấp nhận thay đổi sinh kế để nhường chỗ cho những mái trường mới. Từ Trà Lĩnh, Đàm Thủy đến Đức Long… lòng dân trở thành nền móng đầu tiên, vững chắc nhất của những công trình giáo dục nơi biên giới.
Bài toán khó trên từng thửa đất
Trên khu đất rộng khoảng 5 ha tại xóm Cốc Cáng, xã Trà Lĩnh, Trường Phổ thông nội trú Tiểu học và THCS Trà Lĩnh hiện lên khang trang giữa núi rừng biên giới. Những dãy phòng học, khu nội trú, nhà ăn, nhà đa năng và sân thể thao từng bước tạo nên một không gian học tập, sinh hoạt đồng bộ cho học sinh.
Ít ai hình dung, để có mặt bằng xây trường mới, địa phương phải thu hồi 42.337,6 m² đất của 31 hộ. Phần lớn diện tích là đất lúa, đất trồng cây lâu năm, đất rừng, vườn cây ăn quả và đất có các công trình phụ trợ. 10 hộ dân phải bố trí tái định cư; 25 ngôi mộ phải di chuyển để bàn giao mặt bằng cho dự án.
Chủ tịch UBND xã Trà Lĩnh Hoàng Văn Đông cho biết: Đối với người dân miền núi, đất sản xuất không chỉ tính bằng diện tích mà đó là nơi sản xuất nông nghiệp, bảo đảm cuộc sống của cả gia đình. Việc thu hồi đất vì thế tác động trực tiếp đến sinh kế trước mắt và lâu dài. Di chuyển mộ lại là vấn đề nhạy cảm, gắn với tín ngưỡng, phong tục, tình cảm của từng gia đình, dòng họ.
Ngay từ khi có chủ trương đầu tư, địa phương xác định giải phóng mặt bằng là nhiệm vụ trọng tâm, trong đó tuyên truyền, vận động phải đi trước một bước. Cấp ủy, chính quyền huy động cả hệ thống chính trị cùng tham gia; phân công cán bộ trực tiếp xuống xóm, gặp các hộ có đất bị ảnh hưởng để thông tin về quy mô, ý nghĩa của dự án, chính sách bồi thường và phương án ổn định đời sống. Những vấn đề người dân còn băn khoăn được trao đổi trực tiếp. Nhờ cách làm kiên trì, công khai, minh bạch, người dân hiểu rõ ý nghĩa lâu dài của công trình, 31/31 hộ đều chấp hành bàn giao mặt bằng.
Gia đình chị Lục Thị Lẻn, xóm Cốc Cáng là một trong những hộ thuộc diện bị thu hồi hơn 5.000 m² đất và phần mộ, chị Lẻn chia sẻ: Bị thu hồi diện tích đất lớn khiến gia đình không khỏi lo lắng. Sau khi được cán bộ xã tuyên truyền, giải thích, gia đình hiểu đây là công trình có ý nghĩa lâu dài đối với con em địa phương nên thống nhất bàn giao đất. Mình mất đi một phần đất sản xuất, nhưng đổi lại con cháu có trường học tốt hơn, đi học đỡ vất vả nên gia đình sẵn sàng ủng hộ.
Ông Nông Đức Lìu, xóm Cốc Cáng cũng đặt lợi ích lâu dài của thế hệ trẻ lên trên những dự định riêng. Theo ông, trường học ở gần, con cháu trong vùng sẽ đi lại thuận lợi, được học tập và sinh hoạt trong điều kiện tốt hơn. Vì vậy gia đình đồng thuận giao đất, tạo điều kiện để dự án sớm triển khai.
Trường Phổ thông nội trú Tiểu học và THCS Trà Lĩnh sau đó trở thành công trình đầu tiên trong số 11 trường của tỉnh thi công xong sớm nhất, với quy mô 31 lớp, phục vụ 1.165 học sinh năm học mới 2026 - 2027.

Nhờ sự đồng thuận của người dân, các công trình trường phổ thông nội trú liên cấp được triển khai bảo đảm tiến độ.
Nhường sinh kế, mở cửa tương lai
Tại xóm Keo Nà, xã Đàm Thủy, những khu nhà của Trường Phổ thông nội trú Tiểu học và THCS Đàm Thủy được xây trên đất người dân từng trồng lúa, ngô, thuốc lá, đậu, lạc. Để có khoảng 5 ha xây trường, 31 hộ gia đình phải nhường đất sản xuất. Phía sau mặt bằng được bàn giao là những trăn trở về sinh kế và niềm mong mỏi con cháu được học hành đầy đủ hơn.
Gia đình ông Triệu Văn Thành, xóm Keo Nà, là hộ bàn giao đất sớm nhất chia sẻ: Gần 2.000 m² đất ruộng gắn bó bao đời nay phải nhường lại, gia đình sẽ gặp khó khăn khi tìm mua đất sản xuất ở nơi khác. Nhưng nghĩ đến việc trẻ em được học gần nhà, người lớn đỡ vất vả đưa đón, tôi cho rằng người dân nên hưởng ứng cùng Đảng, Nhà nước xây trường để con em quê mình có điều kiện học tập tốt hơn.
Đáp lại niềm tin ấy, công tác vận động phải gắn với bảo đảm quyền lợi người dân ổn định đời sống. Chủ tịch UBND xã Đàm Thủy Đặng Lê Nam cho biết: Đảng ủy, UBND xã chỉ đạo Hội đồng bồi thường phối hợp với các đơn vị chuyên môn đo đạc, xác định ranh giới, phân loại đất, kiểm đếm cây cối, hoa màu, tài sản. Các nội dung được công khai để người dân biết, góp ý, giám sát. Bí thư chi bộ, trưởng xóm, cán bộ xã và người có uy tín trực tiếp giải thích chủ trương, chính sách cho từng hộ. Tổng kinh phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư hơn 12,7 tỷ đồng, trong đó hơn 7,1 tỷ đồng hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp, tạo việc làm. Nhờ đó các hộ dân đồng thuận giao mặt bằng cho chủ đầu tư.
Tại xóm Bản Pò, xã Đức Long, câu chuyện nhường đất cũng bắt đầu từ những vườn cây, nương mía gắn bó với người dân. Gia đình bà Vũ Thị Bình có hơn 3.000 m² đất nông nghiệp bị thu hồi. Trên diện tích này, gia đình luân phiên trồng sắn, mía, cây ăn quả, từng bước giảm nghèo. Bàn giao đất đồng nghĩa với việc thay đổi nguồn thu đã gây dựng qua nhiều năm. Nhưng nghĩ đến việc trẻ em không còn vất vả, khó khăn khi đi học vào mùa mưa lũ, gia đình bà ủng hộ chủ trương xây trường. Bà còn vận động những người xung quanh cùng đồng thuận, bởi con em sẽ được hưởng lợi từ môi trường nội trú, bớt đi lại khó khăn, có điều kiện học tập và giao tiếp với bạn bè.
Trưởng xóm Bản Pò Vi Hùng Trường cho biết: Xóm có 23 hộ bị ảnh hưởng về đất, cán bộ xã, xóm đến từng hộ tuyên truyền, giải thích; tiến hành đo đạc, kiểm đếm đầy đủ, niêm yết công khai phương án bồi thường. Qua đó, 21 hộ nhận trên 14 tỷ đồng tiền bồi thường, hỗ trợ và thưởng tiến độ bàn giao mặt bằng. Trên diện tích 5 ha, ngôi trường mới có 27 lớp, phục vụ hơn 1.000 học sinh vùng biên.
Từ Keo Nà đến Bản Pò, người dân đồng tình nhường đất cũng là cách trao gửi niềm tin vào chủ trương của Đảng, Nhà nước. Trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền quan tâm đời sống nhân dân đã tạo sự đồng thuận. Những ngôi trường mới được dựng xây từ sự sẻ chia của người dân, mở thêm cơ hội cho trẻ em biên giới.

Lãnh đạo UBND tỉnh kiểm tra thực địa dự án Trường Phổ thông nội trú liên cấp Tiểu học và THCS Lũng Nặm.
Lòng dân tạo nền móng vững bền
Những thửa ruộng, nương rẫy được bàn giao, máy móc tiến vào công trường. Nhưng hành trình dựng trường nơi biên giới còn nhiều trở ngại. Mưa kéo dài, nền đất yếu, những tầng đá cứng và đường vận chuyển hiểm trở thử thách người thi công. Trong những lúc ấy, người dân tiếp tục sẻ chia, hỗ trợ để tháo gỡ khó khăn, góp phần giữ nhịp xây dựng những mái trường.
Ở xã Lũng Nặm, tìm được khu đất đủ rộng để xây trường đã khó, tạo mặt bằng thi công càng gian nan khi khoảng 80% diện tích là đá. Do yêu cầu bảo đảm hành lang an toàn, việc nổ mìn không thuận lợi, đơn vị thi công phải dùng máy đục phá cơ giới, người dân cùng đồng hành. Tại xã Đàm Thủy, khối lượng đá lớn, nước thường xuyên đọng trong hố móng; nhiều vị trí phải bơm thoát nước, gia cố trước khi tiếp tục xây dựng. Ở xã Quang Hán, địa hình dốc, đường vận chuyển khó khăn khiến việc bố trí nơi tập kết vật liệu trở thành bài toán cần giải quyết.
Câu chuyện tại xóm Pú Dô, xã Quang Hán cho thấy sự đồng hành của người dân tiếp tục cả sau ngày bàn giao đất. Bí thư Chi bộ xóm Pú Dô Dương Văn Hoan cho biết: Khi thi công trường cần thêm mặt bằng tập kết vật liệu, được Bí thư Đảng ủy xã trao đổi, tôi vận động hộ gia đình Hầu Văn Tiến, Hầu Văn Kinh đồng ý cho đơn vị thi công mượn mặt bằng, không trồng lúa và hoa màu 2 vụ. Từ chỗ hiểu chủ trương, bà con sẵn lòng góp thêm điều kiện để công trình triển khai thuận lợi. Việc cho mượn mặt bằng đã đáp ứng nhu cầu thực tế của công trường.
Mỗi phần đất bàn giao, mỗi khoảng đất cho mượn đều gắn với công việc, sinh hoạt của một gia đình. Bởi vậy, vận động nhân dân phải bắt đầu từ sự thấu hiểu: bà con đang băn khoăn điều gì, quyền lợi nào cần được giải thích, khó khăn nào cần được giải quyết. Bí thư chi bộ, trưởng xóm, cán bộ, đảng viên gần dân chính là những người nối chủ trương với thực tế ấy.
Từ Pú Dô đến những công trường vùng biên, lòng dân đang góp sức cùng các đơn vị thi công vượt qua trở ngại. Bê tông, cốt thép tạo nên nền móng công trình; sự đồng thuận và niềm tin tạo nền tảng để chủ trương xây trường đi vào cuộc sống. Sự gửi gắm ấy cũng đặt ra trách nhiệm đối với các cấp, ngành và đơn vị liên quan: bảo đảm chất lượng công trình, tổ chức dạy học hiệu quả, chăm lo chu đáo cho học sinh và quan tâm đời sống những hộ nhường đất. Khi tiếng đọc bài vang lên trên đất từng là ruộng, nương, người dân có thể thấy tương lai con em từ chính sự đóng góp của mình.
Thực tiễn xây dựng 11 trường nội trú liên cấp trên địa bàn tỉnh cho thấy, chủ trương lớn của Đảng đi vào lòng dân nhờ sự vào cuộc với tinh thần trách nhiệm cao, sâu sát của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, sở, ngành, địa phương. Đối thoại, công khai phương án bồi thường, quan tâm sinh kế và giải quyết nguyện vọng chính đáng giúp người dân đồng thuận bàn giao đất, cho mượn mặt bằng xây trường. Sự đồng thuận ấy đặt ra trách nhiệm tiếp tục chăm lo đời sống người nhường đất, bảo đảm chất lượng công trình và hiệu quả giáo dục, để niềm tin của nhân dân được đáp lại bằng những lợi ích thiết thực.
Bài 1: Từ quyết sách của Đảng đến 11 mái trường biên cương.
