Nghị quyết số 26-NQ/TW về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới Bài cuối: Mở đường cho du lịch Việt Nam bứt phá
Một quyết sách đúng chỉ thực sự có giá trị khi tạo ra những thay đổi trong đời sống. Với Nghị quyết số 26-NQ/TW, thách thức lớn nhất nằm ở khả năng biến những định hướng lớn thành thể chế thông thoáng hơn, hạ tầng tốt hơn, sản phẩm hấp dẫn hơn, doanh nghiệp mạnh hơn và một môi trường du lịch xanh, thông minh, giàu bản sắc hơn. Hiện thực hóa mục tiêu thu hút hơn 21 triệu khách quốc tế năm 2025 tiến tới 45-50 triệu vào năm 2030, Việt Nam không thể chỉ “làm nhiều hơn”, mà phải thực sự “làm khác đi”.
Tháo nút thắt thể chế để mở không gian phát triển
Sau gần một thập niên thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW, một trong những bài học rõ nhất là chủ trương đúng nhưng nếu thể chế chậm đổi mới thì dư địa phát triển sẽ bị giới hạn. Nghị quyết số 26-NQ/TW vì vậy đặt hoàn thiện thể chế, chính sách và khơi thông nguồn lực ở vị trí quan trọng. Những mô hình như: kinh tế đêm, kinh doanh trên nền tảng số, kinh tế chia sẻ, kinh tế ven sông, ven biển, các tổ hợp du lịch - giải trí - văn hóa - thể thao hay cơ chế hoàn thuế giá trị gia tăng tại những trung tâm mua sắm, du lịch đủ điều kiện đều cần được thể chế hóa bằng những quy định rõ ràng, khả thi.
Đây là những việc tưởng như rất cụ thể nhưng lại quyết định khả năng cạnh tranh của điểm đến. Muốn khách ở lại lâu hơn phải có thêm sản phẩm. Muốn khách chi tiêu nhiều hơn phải có thêm không gian mua sắm, giải trí, ẩm thực và nghệ thuật. Muốn doanh nghiệp đầu tư phải có thủ tục minh bạch, thời gian xử lý hợp lý và khả năng dự báo chính sách…

“Tour yêu nước: Chạm vào ký ức một thời” tại Không gian văn hóa Ký ức Hà Nội (11A Ngũ Xã, phường Ba Đình) đưa công chúng trở về với ký ức của những mùa “Tết Độc lập” Ảnh: Vi Giáng
Cùng với đó, cần nhìn chính sách du lịch trong mối liên hệ với đất đai, đầu tư, thuế, giao thông, xuất nhập cảnh, văn hóa, môi trường và kinh tế số. Một vướng mắc về đất đai có thể làm chậm cả dự án du lịch; một thủ tục đầu tư kéo dài có thể làm mất cơ hội thị trường; một quy định thiếu đồng bộ về kinh tế đêm có thể khiến cả chuỗi dịch vụ không thể vận hành.
Nghị quyết số 26-NQ/TW sẽ tác động đến một không gian chính sách rất rộng. Do vậy, Quốc hội không chỉ hoàn thiện pháp luật về du lịch mà còn phải tiếp tục rà soát những quy định về đất đai, đầu tư, thuế, giao thông, xuất nhập cảnh, văn hóa, môi trường, kinh tế số… liên quan trực tiếp đến năng lực cạnh tranh của ngành. Một chính sách tốt cho du lịch đôi khi không nằm trong Luật Du lịch, mà nằm ở việc một thủ tục đầu tư được rút ngắn bao nhiêu ngày, một tuyến giao thông được kết nối thế nào hay một điểm đến được trao quyền quản trị ra sao. Ở địa phương, HĐND cũng có thể tham gia sâu hơn vào việc quyết định và giám sát nguồn lực cho du lịch: từ hạ tầng kết nối, bảo tồn di sản, môi trường, không gian công cộng đến phát triển kinh tế đêm và sản phẩm đặc trưng.
Đầu tư hạ tầng để tăng khả năng tiếp cận, phát triển du lịch xanh
Nghị quyết số 26-NQ/TW đặt yêu cầu phát triển hạ tầng và hệ sinh thái dịch vụ gắn với giao thông kết nối, logistics, mua sắm, ẩm thực, giải trí, biểu diễn nghệ thuật và dịch vụ cao cấp. Vì vậy, đầu tư cho du lịch cần chuyển từ tư duy “xây thêm công trình” sang “tăng khả năng tiếp cận và tạo trải nghiệm”. Các hành lang du lịch liên vùng, các cực tăng trưởng Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, các trung tâm du lịch trọng điểm và khu du lịch quốc gia cần được đặt trong một mạng lưới kết nối thống nhất thay vì phát triển manh mún theo địa giới hành chính.
Một tuyến đường mới không chỉ giúp đi lại thuận tiện hơn. Nếu được tính toán đúng, nó có thể mở một thị trường khách mới cho cả một vùng. Một tuyến đường sắt có sản phẩm du lịch đi kèm có thể biến hành trình di chuyển thành trải nghiệm. Một tuyến đường thủy được tổ chức tốt có thể tạo thêm một sản phẩm hoàn toàn mới. Hạ tầng du lịch vì thế phải được nhìn như hạ tầng tạo giá trị, chứ không chỉ là hạ tầng phục vụ du lịch.
Những năm đến, một cuộc cách mạng về hạ tầng kết nối đa phương tiện có thể sẽ được kích hoạt. Dòng vốn đầu tư công và tư nhân sẽ tập trung nâng cấp hệ thống cao tốc, đường ven biển, cảng hàng không và bến du thuyền quốc tế. Đáng chú ý, Nghị quyết nhấn mạnh việc “Ưu tiên hạ tầng dịch vụ đường biển có khả năng tiếp nhận tàu du lịch cỡ lớn, đưa Việt Nam trở thành điểm đến quan trọng trong hành trình du lịch tàu biển khu vực châu Á - Thái Bình Dương”. Đi kèm với đó là việc thu hút các nhà đầu tư chiến lược xây dựng các khu phức hợp du lịch - văn hóa - giải trí - mua sắm và các trung tâm mua sắm hàng hiệu có ưu đãi về giá (outlet) chuyên nghiệp theo chuẩn quốc tế để tối ưu hóa dòng tiền của du khách.
Mục tiêu tăng trưởng lượng du khách cũng đồng nghĩa với áp lực ngày càng lớn lên môi trường, tài nguyên và không gian sống. Khi đó, chính tài nguyên tạo nên sức hút của du lịch lại trở thành nạn nhân của tăng trưởng. Do vậy, Nghị quyết số 26-NQ/TW đặt phát triển du lịch xanh, thông minh, sáng tạo và bền vững trong cùng một mô hình. Điều đó cần được cụ thể hóa bằng các tiêu chuẩn về sức chứa điểm đến, quản lý rác thải, tiết kiệm năng lượng, bảo vệ nguồn nước, sử dụng năng lượng sạch, bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ di sản. Tăng trưởng du lịch không thể đánh đổi bằng việc tiêu hao tài nguyên nhanh hơn tốc độ phục hồi.
Mục tiêu cuối cần đạt đến là đưa Việt Nam trở thành một đất nước mà du khách muốn đến, muốn ở lại, muốn chi tiêu, muốn quay trở lại. Khi mỗi chuyến đi của du khách tạo ra nhiều giá trị hơn cho nền kinh tế, nhiều sinh kế hơn cho người dân, nhiều động lực hơn cho doanh nghiệp và nhiều sức mạnh mềm hơn cho quốc gia, du lịch mới thực sự trở thành động lực tăng trưởng trong kỷ nguyên mới.
