Nghị quyết số 71-NQ/TW: Đo chuyển biến giáo dục từ lớp học và chất lượng đầu ra

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Ngọc Tiến cho rằng, giám sát Nghị quyết số 71-NQ/TW cần đánh giá chuyển biến từ lớp học, điều kiện dạy học và chất lượng đầu ra giáo dục.

Mới đây, Ban Bí thư đã quyết định thành lập Đoàn giám sát chuyên đề về triển khai thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, tập trung vào công tác giáo dục phổ thông.

Nội dung giám sát bao quát từ chương trình, sách giáo khoa đến công tác quản lý, tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ, giáo viên và đầu tư xây dựng trường học.

Xung quanh nội dung này, phóng viên Báo Công Thương đã trao đổi với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Ngọc Tiến, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Ngoại thương, về những vấn đề cần đánh giá thực chất qua giám sát, từ góc nhìn tuyển sinh, đào tạo đại học và yêu cầu phát triển năng lực người học.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Ngọc Tiến, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Ngoại thương.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Ngọc Tiến, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Ngoại thương.

Nhìn giáo dục như một hệ thống, chuyển từ học để thi sang biết cách học

- Thưa ông, việc giám sát toàn diện thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW ở thời điểm này có ý nghĩa như thế nào và đâu là những vấn đề cần được nhìn nhận thực chất nhất?

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Ngọc Tiến: Trước hết, cần khẳng định Nghị quyết số 71-NQ/TW đã đưa ra nhiều cải cách mang tính đột phá trong giáo dục và đào tạo, như một bộ sách giáo khoa, tiến tới miễn phí sách giáo khoa, tăng phụ cấp ưu đãi cho giáo viên, đưa tiếng Anh dần trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học và trao thêm quyền cho ngành giáo dục trong tuyển dụng, sử dụng đội ngũ.

Những nội dung này được kỳ vọng đem lại tác động mạnh mẽ, khi các chủ trương lớn đi vào thực tế, sẽ bộc lộ cả tác động tích cực và những khiếm khuyết cần khắc phục. Vì vậy, sau một năm thực hiện, đây là thời điểm cần nhìn nhận, đánh giá và giám sát để cải tiến, phát huy những tác động tích cực.

Ý nghĩa lớn nhất của việc giám sát toàn diện, theo tôi, là nhìn giáo dục phổ thông như một hệ thống. Chương trình tốt nhưng giáo viên không được bồi dưỡng đầy đủ thì không phát huy được. Sách giáo khoa tốt nhưng thi cử, đánh giá vẫn đặt nặng ghi nhớ thì nhà trường vẫn dạy để thi. Bộ máy được sắp xếp lại nhưng thẩm quyền không đi kèm trách nhiệm và nguồn lực thì hiệu trưởng vẫn bị hạn chế trong thực hiện nhiệm vụ. Có ba vấn đề cần nhìn nhận thực chất.

Thứ nhất, khoảng cách giữa văn bản và lớp học, giữa quy định và triển khai. Chương trình hướng tới phát triển năng lực, nhưng cần trả lời trung thực rằng học sinh đã thực sự được tranh luận, làm dự án, giải quyết vấn đề hay vẫn chủ yếu nghe giảng và học thuộc.

Thứ hai, chênh lệch giữa các vùng. Mức trung bình toàn quốc có thể che khuất khoảng cách lớn giữa đô thị và miền núi, giữa trường thuận lợi và trường khó khăn, nhất là về giáo viên ngoại ngữ, tin học và nghệ thuật.

Thứ ba, áp lực thi cử và học thêm, chi phối hành vi, động lực của học sinh, phụ huynh và nhà trường. Những vấn đề này vận hành một phần theo cơ chế cung cầu, cần chính sách hiệu quả, thực chất chứ không chỉ những mệnh lệnh hành chính.

Do đó, giám sát cần bao quát cả đô thị, nông thôn, miền núi; đi sâu đến các chủ thể liên quan và dựa trên dữ liệu, bằng chứng mang tính đại diện, không chỉ dừng ở báo cáo thành tích.

- Từ thực tế tuyển sinh, đào tạo tại Trường Đại học Ngoại thương, ông đánh giá thế nào về năng lực học sinh bước vào đại học và những yêu cầu đặt ra đối với giáo dục phổ thông?

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Ngọc Tiến: Mặt tích cực là học sinh vào trường ngày càng có nền tảng tốt. Sinh viên có năng lực ngoại ngữ tốt hơn, năng động, sử dụng công nghệ thành thạo, tiếp cận thông tin nhanh và tự tin hơn nhiều thế hệ trước. Một bộ phận không nhỏ đã có trải nghiệm hoạt động ngoại khóa, nghiên cứu, thi học thuật quốc tế ngay từ phổ thông.

Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế. Về tư duy độc lập, nhiều em giỏi tìm “đáp án đúng” nhưng chưa quen đặt câu hỏi, phản biện có lập luận hay bảo vệ quan điểm bằng dữ liệu.

Về vận dụng kiến thức, các em có kiến thức nền khá, nhưng kỹ năng liên hệ với tình huống kinh tế, xã hội thực tế, làm việc nhóm hiệu quả và viết báo cáo mạch lạc chưa đồng đều.

Về tự học, nhiều em quen học theo thời khóa biểu trên lớp. Khi lên đại học, tự lập kế hoạch, đọc tài liệu dài, tìm và đánh giá nguồn thông tin vẫn là thách thức. Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo phát triển, nếu không biết tự học và kiểm chứng, người học rất dễ phụ thuộc vào công cụ.

Về ngoại ngữ, điểm số và chứng chỉ tốt hơn, nhưng khả năng dùng tiếng Anh để học chuyên môn, đọc tài liệu học thuật, viết và thuyết trình vẫn còn khoảng cách. Chênh lệch giữa học sinh thành phố lớn và học sinh từ địa phương khó khăn cũng rất rõ.

Từ đó, tôi cho rằng, giáo dục phổ thông cần chuyển trọng tâm từ “học để thi” sang “học để biết cách học”. Cần tăng đánh giá quá trình qua dự án, bài viết, thuyết trình và từng bước đưa các năng lực này vào đề thi, cách xét tuyển. Ngoại ngữ cần được dạy như công cụ giao tiếp và học tập, không chỉ là một môn thi.

Tháo gỡ điểm nghẽn, đánh giá đổi mới bằng kết quả thực chất

- Theo ông, những điểm nghẽn nào cần ưu tiên tháo gỡ để giáo viên tập trung vào chuyên môn và đổi mới chương trình, sách giáo khoa thực sự chuyển thành chất lượng dạy học?

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Ngọc Tiến: Theo tôi, có bốn điểm nghẽn cần ưu tiên.

Thứ nhất, thiếu giáo viên và điều kiện dạy học. Sau khi sắp xếp lại mạng lưới trường lớp, cả nước cần bổ sung hơn 43.000 chỉ tiêu giáo viên mầm non và phổ thông; còn thiếu gần 45.700 phòng học và hơn 27.000 phòng chức năng, trong khi thiết bị dạy học tối thiểu mới đáp ứng khoảng một nửa yêu cầu.

Với những con số này, khó đòi hỏi giáo viên dạy học phát triển năng lực, làm dự án hay thực hành thí nghiệm một cách thực chất. Giám sát cần làm rõ vướng mắc ở biên chế, cơ chế tài chính, quỹ đất hay tổ chức thực hiện của địa phương, từ đó giao nhiệm vụ cụ thể, có cơ quan chịu trách nhiệm và thời hạn hoàn thành.

Thứ hai, gánh nặng hành chính. Giáo viên vẫn phải làm quá nhiều hồ sơ, sổ sách, báo cáo, phong trào, thi đua; nhiều việc trùng lặp hoặc hình thức. Thời gian soạn bài, chấm chữa và theo dõi sự tiến bộ của học sinh vì thế bị thu hẹp.

Giảm hồ sơ, sổ sách cần được đo bằng kết quả, chẳng hạn mỗi giáo viên có thêm bao nhiêu giờ mỗi tuần cho chuyên môn. Chuyển đổi số phải theo hướng nhập liệu một lần, dùng chung, thay vì số hóa thêm một lớp thủ tục.

Thứ ba, động lực nghề nghiệp. Tăng phụ cấp ưu đãi là bước đi có ý nghĩa, nhưng chính sách không thể dừng ở lương và phụ cấp. Cần tôn vinh, bảo vệ uy tín nhà giáo, cải thiện điều kiện làm việc và xây dựng lộ trình phát triển nghề nghiệp rõ ràng. Bồi dưỡng phải thiết thực, không phải “học cho đủ giờ”; ghi nhận giáo viên giỏi cần dựa trên sự tiến bộ thực của học sinh.

Thứ tư, quản trị nhà trường. Hiệu trưởng chịu trách nhiệm về chất lượng nhưng chưa có đủ quyền về nhân sự, tài chính và tổ chức dạy học. Nhà trường cần được trao quyền tự chủ nhiều hơn, đi kèm minh bạch thông tin và trách nhiệm giải trình bằng kết quả.

Đồng thời, cần chấn chỉnh bệnh thành tích, dạy thêm, học thêm biến tướng và lạm thu đầu năm. Khi những “động lực ngầm” này còn tồn tại, đổi mới chương trình, sách giáo khoa khó chuyển thành chất lượng thực sự.

Đổi mới chỉ đi vào lớp học khi người thầy có đủ thời gian, điều kiện, năng lực và động lực; nhà trường có đủ quyền để tổ chức dạy học phù hợp với học sinh.

- Sau giám sát, những vấn đề nào cần được lượng hóa và có giải pháp cụ thể để người học, giáo viên và xã hội cảm nhận được chuyển biến, thưa ông?

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Ngọc Tiến: Yêu cầu tiên quyết là đánh giá dựa trên dữ liệu và kết quả thực chất. Theo tôi, cần chú trọng năm nhóm vấn đề.

Thứ nhất, sự tiến bộ của học sinh. Cần có các bài đánh giá năng lực chuẩn hóa và đặc biệt theo dõi khoảng cách giữa vùng thuận lợi với vùng khó khăn. Tiến bộ đáng ghi nhận nhất là thu hẹp khoảng cách, không chỉ nâng điểm trung bình.

Thứ hai, sự yên tâm làm nghề của nhà giáo. Cần theo dõi chỉ tiêu giáo viên còn thiếu theo môn học, địa phương; thu nhập thực tế sau khi áp dụng phụ cấp mới; thời gian dành cho hành chính so với chuyên môn; tỷ lệ nghỉ việc, chuyển nghề và mức độ hài lòng với nghề.

Thứ ba, điều kiện dạy học, gồm số phòng học, phòng chức năng còn thiếu, mức đáp ứng thiết bị tối thiểu, kết nối internet và hạ tầng số. Đặc biệt, cần theo dõi tiến độ, chất lượng các trường nội trú liên cấp ở xã biên giới. Mỗi chỉ tiêu phải có lộ trình xử lý, mốc thời gian và địa chỉ trách nhiệm.

Thứ tư, gánh nặng của gia đình và xã hội. Cần đo chi phí giáo dục của hộ gia đình, mức độ học thêm, áp lực học tập và sức khỏe tâm lý học sinh để có chính sách giúp giảm những gánh nặng này.

Thứ năm, chất lượng đầu ra và sự sẵn sàng cho bậc học tiếp theo. Cần có phản hồi hệ thống từ trường đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp và doanh nghiệp về tư duy độc lập, tự học, ngoại ngữ, kỹ năng số và khả năng vận dụng của người học.

- Xin cảm ơn ông!

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Ngọc Tiến: Các vấn đề cần được theo dõi, cập nhật, kết nối thành nền tảng dữ liệu giáo dục “đúng, đủ, sạch, sống”. Dữ liệu phải được công khai để học sinh, phụ huynh, giáo viên và chuyên gia cùng theo dõi, giám sát. Khi giám sát trở thành công việc chung của xã hội, cải cách đi vào thực tiễn, chất lượng giáo dục sẽ được nâng lên, đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực của đất nước.

Hoàng Thanh

Nguồn Công Thương: https://congthuong.vn/nghi-quyet-so-71-nq-tw-do-chuyen-bien-giao-duc-tu-lop-hoc-va-chat-luong-dau-ra-476309.html