Nghịch lý cử nhân bằng Giỏi chật vật tìm việc: Bảng điểm đẹp nhưng 'lệch pha' thực tế
Dù tốt nghiệp loại Giỏi từ các trường đại học uy tín, không ít cử nhân vẫn rơi vào cảnh chật vật tìm kiếm việc làm hoặc buộc phải đào tạo lại từ đầu khi bước vào môi trường thực tế. Thực trạng này không chỉ phản ánh 'độ vênh' giữa quy trình đánh giá trên giảng đường và đòi hỏi khắt khe của thị trường lao động, mà còn đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc siết chặt chuẩn đầu ra, nâng cao năng lực thực hành trước khi sinh viên ra trường.
Bỡ ngỡ bước ra từ giảng đường với tấm bằng Giỏi
23 tuổi, tốt nghiệp trường đại học hàng đầu về truyền thông tại Hà Nội, V. A. đã loay hoay hơn một năm mà chưa ổn định được công việc. Nhớ lại kỳ học đầu tiên ở bậc đại học, V. A. cho biết, cô dần mất động lực trước phương pháp giảng dạy và kiểm tra nặng tính lý thuyết tại trường. Cộng thêm tâm lý tự ti sau vài lần trượt tuyển chọn câu lạc bộ, suốt những năm học sau đó, V. A. thu mình, chỉ tập trung hoàn thành các môn học trên lớp để đạt điểm số cao mà hoàn toàn không tham gia hoạt động ngoại khóa hay đi làm thêm.
Rời giảng đường với tấm bằng tốt nghiệp loại Giỏi, V. A. lập tức đối mặt với thực tế khắc nghiệt: Hơn một năm trôi qua vẫn chưa thể tìm được việc làm chính thức, vì hồ sơ hoàn toàn trống trải kinh nghiệm thực tế. Dù nhiều lần chấp nhận làm thực tập sinh không lương để học việc, nhưng khối lượng công việc lớn, cùng áp lực tài chính khiến cử nhân này nhanh chóng nản chí. "Sự thiếu định hướng và thiếu cọ xát trong suốt những năm đại học khiến mình bây giờ thực sự chật vật để bắt nhịp với xã hội", V. A. chia sẻ.

Nhiều sinh viên bước vào giảng đường với tâm thế hào hứng nhưng sớm mất động lực học tập vì thiếu định hướng. (Ảnh minh họa)
Với khối ngành Kỹ thuật - Công nghệ, nơi nhu cầu nhân lực luôn ở mức cao, tấm bằng Giỏi hay kiến thức sách vở trên giảng đường cũng chưa đủ để đảm bảo sinh viên bắt nhịp ngay với công việc. L. Đ. (23 tuổi, Hà Nội) cũng tốt nghiệp loại Giỏi tại một học viện có tiếng về công nghệ tại Hà Nội. Sau một năm "học thêm" ở các doanh nghiệp, L. Đ. mới được nhận làm kỹ thuật viên cho một công ty chuyên về thiết bị điện.
L. Đ. cho biết, kiến thức nền tảng ở trường rất bài bản nhưng thời lượng thực hành chỉ chiếm từ 10 - 20% (tương đương 2 - 3 buổi mỗi kỳ). Hệ quả là khi trực tiếp thao tác trên bảng mạch tại công ty, dù nắm rất rõ nguyên lý linh kiện trên giấy, L. Đ. vẫn bỡ ngỡ ở nhiều khâu kỹ thuật và gặp khó khăn khi xử lý những sai số đo đạc khác biệt so với tính toán lý thuyết. "Nhiều nơi cần mình làm được việc ngay, nhưng mình lại cần thời gian để học hỏi thêm", L. Đ. kể lại.
Còn với N. Q. (năm cuối, ĐH Bách khoa Hà Nội) cho rằng, nội dung đào tạo và điều kiện cơ sở vật chất tại trường đôi khi chưa theo kịp tốc độ tối ưu hóa của doanh nghiệp. Trong lĩnh vực bán dẫn hay công nghệ thông tin, số lượng phòng thí nghiệm (lab) và quyền truy cập vào các phần mềm, công cụ chuyên dụng có bản quyền còn hạn chế so với quy mô sinh viên. Khi bước vào dự án thực tế đòi hỏi kỹ năng xử lý chuyên sâu thay vì các câu lệnh truy vấn cơ bản trên lớp, sinh viên buộc phải tự bồi đắp lại từ đầu.
Theo số liệu của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), trong quý III/2026, cả nước có khoảng 1,6 triệu thanh niên từ 15 đến 24 tuổi không có việc làm, không tham gia học tập và không tham gia đào tạo, chiếm 11,2% tổng số thanh niên. Con số này tăng hơn 195.000 người so với quý trước, đặt ra những vấn đề cấp bách về công tác hướng nghiệp, chất lượng đào tạo cũng như khả năng kết nối giữa giáo dục đại học với thị trường lao động. Đáng chú ý, ngay cả những sinh viên tốt nghiệp loại Giỏi, Xuất sắc hoặc xuất thân từ các trường đại học danh tiếng cũng không nằm ngoài vòng xoáy đào thải này, nếu chỉ sở hữu kiến thức thuần lý thuyết.
Doanh nghiệp tuyển bằng chứng năng lực, không tuyển bảng điểm đẹp
Dưới lăng kính quản trị nhân sự, bà Trần Hồng - Giám đốc điều hành Công ty Cổ phần Nhân lực Quốc tế HRI nhận định, tiêu chí lựa chọn nhân sự trẻ hiện nay đã thay đổi triệt để. Nhà tuyển dụng chỉ mất khoảng 30 giây để sàng lọc một hồ sơ.
Nếu trước đây, doanh nghiệp ưu tiên bằng cấp từ các trường tốp đầu, thì nay trọng tâm đã chuyển sang đánh giá năng lực thực tế, khả năng thích nghi và việc ứng viên đã chuẩn bị gì để ứng dụng công nghệ, trí tuệ nhân tạo (AI) vào nâng cao hiệu suất công việc.
"Một hồ sơ dù tốt nghiệp trường tốp đầu đúng chuyên ngành, bảng điểm đẹp nhưng phần trải nghiệm trống trơn sẽ không được đánh giá cao bằng sinh viên các trường trung bình nhưng có trải nghiệm phong phú. Điều khiến nhà tuyển dụng lo ngại không phải là ứng viên ít kinh nghiệm làm việc chính thức, mà là một bản CV không cho thấy dấu hiệu của sự chủ động phát triển bản thân, thiếu khả năng tự học và thiếu kết nối với môi trường xã hội trong suốt bốn năm đại học", bà Trần Hồng nhấn mạnh.
Cũng theo Giám đốc điều hành HRI, việc một số cử nhân cho rằng, vì nhà trường không dạy kinh nghiệm thực tế dẫn đến hồ sơ "trắng", chỉ đúng một phần. Nhà trường có trách nhiệm trang bị nền tảng kiến thức chuyên môn, nhưng không thể thay thế vai trò chủ động của người học.
Doanh nghiệp không đòi hỏi sinh viên mới ra trường phải có số năm kinh nghiệm, mà tuyển dụng dựa trên "bằng chứng của năng lực". Bằng chứng đó có thể là một đề tài nghiên cứu khoa học, một sản phẩm công nghệ, một dự án truyền thông, một website tự xây dựng, hoạt động thiện nguyện hoặc các chứng chỉ chuyên môn có giá trị. Một danh mục sản phẩm (portfolio) chất lượng, cùng tư duy mạch lạc, phong thái tự tin khi phỏng vấn, đôi khi tạo ấn tượng mạnh hơn rất nhiều so với một bảng điểm đẹp nhưng thiếu trải nghiệm.
Ở góc độ doanh nghiệp kỹ thuật, chia sẻ với Sinh Viên Việt Nam, anh Lê Quốc Bảo (Công ty Cổ phần MunTech Service) cũng chỉ ra độ chênh lệch lớn giữa năng lực thực tế của sinh viên mới tốt nghiệp với đòi hỏi của công việc. Nguyên nhân chủ yếu do điểm thực hành trên giảng đường hiện quá thấp (chỉ chiếm chưa đến 20%) và cơ sở vật chất chưa theo kịp quy mô sĩ số. "Một lớp có tới 30 - 40 sinh viên nhưng thực hành chung trên một, hai máy thì các em chỉ khám phá được rất ít", anh Bảo nói.

Sinh viên tìm kiếm thêm những phòng lab kỹ thuật bên ngoài nhà trường để tăng thời gian thực hành. (Ảnh minh hoạ)
Sự thiếu hụt này đẩy thị trường vào một nghịch lý: Doanh nghiệp sẵn sàng trả lương cao hơn 15 - 20% để "săn" người làm được việc ngay nhằm tránh chi phí đào tạo lại, nhưng do nguồn cung hạn chế, họ vẫn buộc phải hạ tiêu chí và mở các phòng lab, "vườn ươm" tự đào tạo. Dù vậy, theo anh Bảo, nhiều sinh viên khi tiếp xúc với bài toán phức tạp tại doanh nghiệp thường dễ nản chí và bỏ cuộc chỉ sau vài ngày, vì thiếu kỹ năng chủ động bóc tách vấn đề.
Siết chặt chuẩn đầu ra, lấy thực hành làm thước đo năng lực
Thực trạng sinh viên cầm tấm bằng đẹp nhưng thiếu kỹ năng thực tế đặt ra bài toán trực diện về quy trình kiểm tra, đánh giá của các trường đại học. Tại Hội nghị Giáo dục đại học 2026 vừa qua, Bộ trưởng Bộ GD - ĐT Hoàng Minh Sơn đã đặt câu hỏi về mức độ nỗ lực thực chất của người học trước hiện tượng tỷ lệ tốt nghiệp loại Xuất sắc tăng cao. Bộ trưởng yêu cầu các trường tạm dừng chạy theo quy mô để nâng cao chất lượng, siết chặt khâu đánh giá và đo lường thời gian tự học, nghiên cứu mỗi tuần của sinh viên.
Về phía người học, trước áp lực thất nghiệp, không ít cử nhân hiện nay lựa chọn thỏa hiệp với những công việc giản đơn, trái chuyên môn để có thu nhập trước mắt. Bà Trần Hồng cảnh báo, rủi ro lớn nhất của lựa chọn này không phải là mức lương thấp, mà là việc người trẻ đánh đổi những năm đầu sự nghiệp cho những công việc lặp đi lặp lại, không được hướng dẫn, không có lộ trình phát triển và không tích lũy được kỹ năng nghề nghiệp.
Sau một đến hai năm, họ vẫn quay về vạch xuất phát và đánh mất lợi thế cạnh tranh. Do đó, người trẻ cần đánh giá công việc đầu tiên dựa trên ba yếu tố: Học được gì, phát triển được năng lực gì và cơ hội nghề nghiệp sau đó ra sao.

Mới đây, Thủ tướng Chính phủ vừa có chỉ thị yêu cầu không lấy riêng tỷ lệ người học Khá, Giỏi, tỷ lệ tốt nghiệp hoặc kết quả thi để làm căn cứ đánh giá, xếp loại, khen thưởng tập thể, cá nhân. (Ảnh minh họa)
Để giải quyết bài toán nhân lực, bà Trần Hồng khuyến nghị sinh viên ngay từ năm thứ nhất cần chủ động xây dựng đồng thời 4 nhóm năng lực cốt lõi: Năng lực học tập suốt đời (tự học, cập nhật công nghệ và AI); năng lực chuyên môn vững chắc; năng lực làm việc (giao tiếp, làm việc nhóm, tư duy phản biện, giải quyết vấn đề); và năng lực định hướng nghề nghiệp rõ ràng, để tránh học tập thụ động.
Đồng thời, anh Lê Quốc Bảo cũng đề xuất các trường đại học cần thực chất hóa việc gắn kết với doanh nghiệp, hệ thống hóa việc chấm điểm dự án và đưa kỹ năng thực hành thành "chuẩn đầu ra" bắt buộc.
"Nếu bốn năm đại học chỉ đổi lấy một tấm bằng, đó là một khoản đầu tư chưa hiệu quả. Nhưng nếu bốn năm đó giúp sinh viên tích lũy được kiến thức, kỹ năng, các dự án thực tế và tư duy nghề nghiệp, thì ngay cả khi chưa từng đi làm chính thức, các bạn vẫn sẽ trở thành những ứng viên được doanh nghiệp săn đón ngay khi vừa tốt nghiệp", bà Trần Hồng đúc kết.
